Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin Hội Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Pope Francis: The faith is not ideological, be open to other







Pope Francis: The faith is not ideological, be open to other 
bởi vatican

Jesus asks us not to close the door to others. This was the message of Pope Francis' homily during morning Mass. "The faith passes, so to speak, through a distiller and becomes ideology. And ideology does not beckon people. In ideologies there is not Jesus: in his tenderness, his love, his meekness. And ideologies are rigid, always. And when a Christian becomes a disciple of the ideology, he has lost the faith: he is no longer a disciple of Jesus, he is a disciple of this attitude of thought... For this reason Jesus said to them: 'You have taken away the key of knowledge.' The knowledge of Jesus is transformed into an ideological and also moralistic knowledge, because these close the door with many req ..


Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima



Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima
LM. Trần Đức Anh OP10/12/2013


VATICAN. Gần 100 ngàn tín hữu đã tham dự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima do ĐTC Phanxicô chủ sự tại Quảng trường Thánh Phêrô chiều ngày thứ bẩy 12-10-2013.

Buổi cầu nguyện diễn ra trong khuôn khổ Ngày Thánh Mẫu trong Năm Đức Tin, với cao điểm là Thánh Lễ và nghi thức ĐTC tái thánh hiến thế giới cho Trái Tim Đức Mẹ sáng Chúa Nhật 13-10-2013, kỷ niệm đúng 96 năm Đức Mẹ hiện ra lần cuối cùng tại Fatima.

Sự hiện diện của nguyên bản tượng Đức Mẹ Fatima

Theo lời yêu cầu của ĐTC, nguyên bản Tượng Đức Mẹ được đưa ra khỏi Đền Thánh Fatima và đưa về Roma. Đây là biến cố rất họa hiếm. Lần trước đây là vào dịp Đại Năm Thánh 2000, khi Chân phước Gioan Phaolô 2 cử hành nghi thức phó thác thế giới và Giáo Hội cho Đức Mẹ, ngày 8-10-2000 tại Quảng trường Thánh Phêrô, trước sự hiện diện của 1.500 GM thế giới. Trong triều thiên của Tượng, có gắn viên đạn do ĐTC Gioan Phaolô 2 tặng, viên đạn mà tên Ali Agca đã bắn vào ngài trong cuộc mưu sát ngày 13-5-1981.

Tượng Đức Mẹ Fatima được chở tới Phi trường Fiumicino ở Roma chiều 12-10-2013. Từ đây lúc 1 giờ rưỡi, Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng đã đón rước và tháp tùng về Vatican trên một máy bay trực thăng tối tân của không đoàn 15 thuộc không lực Italia. Chặng dừng đầu tiên của tượng diễn ra tại nhà nguyện trong nhà của Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 để ngài cầu nguyện một lát, trước khi được rước đến Nhà Trọ Thánh Marta và được ĐTC Phanxicô trực tiếp chào kính.

Lúc gần 4 giờ chiều, tượng Đức Mẹ Fatima được long trọng rước ra Quảng trường thánh Phêrô. Dẫn đường là Đức TGM Fisichella và Tượng được 4 Vệ Binh Thụy Sĩ và Hiến Binh Vatican tháp tùng. Các tín hữu đã tụ tập tại đây từ hàng giờ trước đó. Họ đứng tràn ra tới giữa đường Hòa Giải. Hiện diện cạnh lễ đài có hơn 30 HY và Giám Mục.
Tượng Đức Mẹ được rước qua các khu vực khác nhau ở Quảng trường để các tín hữu chào kính. Họ vẫy khăn tay màu trắng khi Tượng Đức Mẹ đi qua, theo thói quen ở Fatima, trong khi ca đoàn hát bài Ave Maria.

Cầu nguyện

Lúc gần 5 giờ chiều, ĐTC Phanxicô tiến vào Quảng trường. Trong lời chào mừng, Đức TGM Fisichella đã giới thiệu hơn 800 hội đoàn Thánh Mẫu được các GM hoặc LM tuyên úy tháp tùng đến tham dự buổi cầu nguyện.
Tiếp đến là nghi thức đón rước Tượng Đức Mẹ từ cây tháp bút giữa Quảng trường tiến lên lễ đài, giữa tiếng hát của mọi người ca bài Ave Maria theo cung điệu của Đền Thánh Fatima. ĐTC hôn kính tượng Đức Mẹ trước khi tượng được đặt trên ngai. Ngài dâng kính Đức Mẹ xâu chuỗi Mân Côi quí giá.

Buổi cầu nguyện được đặt đầu và tiến hành theo ”con đường của Mẹ” gồm 7 chặng: Mẹ Maria chí thánh đón nhận trong đức tin lời tiên tri của cụ già Simeon; Mẹ Maria trốn sang Ai Cập để cứu Chúa Giêsu; Mẹ Maria tìm Chúa Giêsu ở lại Đền thờ Jerusalem; Mẹ Maria gặp Chúa Giêsu trên đường dẫn đến đồi Canvê; Mẹ Maria hiện diện trong cuộc đóng đanh và cái chết của Chúa Giêsu; Mẹ Maria đón nhận xác Chúa Giêsu từ trên thập giá; và sau cùng là Mẹ Maria đặt xác Chúa Giêsu trong mộ và chờ đợi Chúa sống lại.

Mỗi chặng có một bài đọc ngắn trích từ các Sách Tin Mừng, tiếp đến mỗi người cầu nguyện trong thinh lặng, rồi ca đoàn và cộng đoàn hát một đoạn kinh cầu, rồi một kinh Kính Mừng.

Huấn giáo của Đức Thánh Cha

Sau chặng thứ bẩy, ĐTC đã trình bày một bài huấn giáo về Đức Mẹ. Ngài mở đầu, nói với mọi người rằng: ”Tất cả chúng ta ở đây, trong cuộc gặp gỡ Năm Đức Tin, qui hướng về Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội, Mẹ chúng ta. Tượng Đức Mẹ đến từ Fatima giúp chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Mẹ giữa chúng ta. Mẹ Maria luôn mang chúng ta đến cùng Chúa Giêsu. Mẹ là một phụ nữ đức tin, một tín hữu chân thực. Đức tin của Mẹ Maria thế nào?”
ĐTC lần lượt trình bày 3 yếu tố trong Đức tin của Mẹ Maria:

trước tiên, đức tin của Mẹ tháo gỡ cái nút thắt của tội lỗi (Xc LG 56).. Điều mà bà Eva đã thắt lại bằng sự thiếu tin tưởng, thì Mẹ Maria tháo gỡ bằng niềm tin của Mẹ.

Yếu tố thứ hai: Mẹ Maria trao tặng xác thể cho Chúa Giêsu, như Công đồng chung Vatican 2 đã dạy: ”Do niềm tin và lòng vâng phục, Mẹ Maria đã sinh chính Con của Chúa Cha trên trần thế, mà không biết người nam, nhưng dưới bóng của Chúa Thánh Linh” (LG 63). Mẹ Maria đã chịu thai Chúa Giêsu trong đức tin rồi trong xác thể.

Yếu tố thứ ba: Đức tin của Mẹ Maria như một con đường. Mẹ Maria đi trước chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin, Mẹ tháp tùng và nâng đỡ chúng ta. Đức tin của Mẹ Maria là một con đường theo nghĩa trọn cuộc sống của Mẹ là bước theo Con của Mẹ: Chính Chúa là đường, chính Chúa là hành trình. Tiến bước trong đức tin, bước tiến trong cuộc lữ hành thiêng liêng ấy chính là đức tin, và không là gì khác hơn là bước theo Chúa Giêsu, lắng nghe và để cho Lời Chúa hướng dẫn; nhìn như Chúa cư xử và đặt chân chúng ta theo vết chân của Chúa, có cùng những tâm tình và thái độ của Chúa: khiêm tốn, từ bi, gần gũi, nhưng quyết liệt từ khước thái độ giả hình, sống hai mặt, tôn thờ thần tượng.

ĐTC cũng nhấn mạnh rằng: ”Con đường của Chúa Giêsu chính là con đường yêu thương trung tín đến cùng, cho đến độ hy sinh mạng sống, đó là con đường thập giá. Vì thế, hành trình đức tin tiến qua thập giá và Mẹ Maria đã hiểu điều đó ngay từ đầu, khi vua Hêrôđê muốn giết Chúa Giêsu mới sinh. Nhưng rồi thập giá ấy đã trở nên sâu đậm hơn, khi Chúa Giêsu bị phủ nhận: khi ấy đức tin của Mẹ Maria phải đương đầu với sự thiếu cảm thông và khinh rẻ; khi đến ”giờ” của Chúa Giêsu, giờ khổ nạn, lúc ấy đức tin của Mẹ Maria trở thành ánh lửa trong đêm tối. Trong đêm thứ bẩy Tuần Thánh, Mẹ Maria đã canh thức. Ánh lửa của Mẹ bé nhỏ nhưng sáng tỏ, đã được thắp lên cho đến bình minh của cuộc Phục Sinh; và khi Mẹ nghe nói ngôi mộ của Chúa Con trống rỗng, trong tim mẹ tỏa lan niềm vui đức tin, niềm tin kitô nơi sự chết và sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Đó chính là tột đỉnh hành trình đức tin của Mẹ Maria và toàn thể Giáo Hội.

Và ĐTC đặt câu hỏi: Đức tin của chúng ta thế nào? Như Mẹ Maria, chúng ta có giữ cho đức tin được cháy sáng trong những lúc khó khăn, trong tăm tối hay không? Tôi có niềm vui đức tin hay không?”
Buổi cầu nguyện kết thúc với Kinh Lạy Cha, và Phép lành của ĐTC, rồi Bài Ca Salve Regina, Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.

Kinh Mân Côi và canh thức

Sau buổi cầu nguyện tại Quảng trường Thánh Phêrô, Tượng Đức Mẹ Fatima được trực thăng của không lực Italia chở đến Đền Thánh Đức Mẹ Tình Yêu Thiên Chúa, cách trung tâm Roma hơn 10 cây số. tại đây có buổi đọc kinh Mân Côi được nối qua truyền hình với một số Trung tâm Thánh Mẫu tại 10 nước trên thế giới, trong đó có Lộ Đức, Nazareth, Lujan (Argentina), Guadalupe (Mêhicô), Nairobi (Kenya), Banneux (Bỉ), Czestochowa (Ba Lan), Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm (Washington, USA), Akia (Nhật Bản) và Vailankani (Ấn Độ), Aparecida (Brazil).

Sau đó là buổi canh thức cầu nguyện với sự tham dự của các tín hữu hành hương thuộc giáo phận Roma, cho đến bình minh. Rồi trực thăng lại chở Thánh Tượng Đức Mẹ về Vatican. Tại đây từ lúc 9 giờ rước, Tượng Đức Mẹ lại được rước qua các khu vực ở Quảng trường trước khi ĐTC bắt đầu cử hành thánh lễ và nghi thức Phó Thác thế giới cho Đức Mẹ. Có 1 ngàn LM được đồng tế với ĐTC.

Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, và cũng là trưởng ban tổ chức Ngày Thánh Mẫu này cho biết có hơn 150 ngàn tín hữu tham dự thánh lễ đặc biệt sáng Chúa Nhật 13-10-2013, với ĐTC. Phần lớn các tín hữu đến từ Italia, nhưng cũng có các đoàn đại biểu đến từ 48 nước có đăng ký chính thức, trong số này có cả những nước xa xăm như Australia, Ấn độ, Argentina, Nhật Bản, Hoa Kỳ và nhiều nước Nam Mỹ. (SD 12-10-2013)

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Tin Giáo Hội Hoàn Vũ. Tháng 2 năm 2013

Đức Thánh Cha kết thúc tuần tĩnh tâm mùa chay



VATICAN. Lúc 9 giờ sáng thứ bẩy, 23-2-2013, ĐTC và các vị lãnh đạo tại Tòa Thánh đã kết thúc tuần tĩnh tâm mùa chay.

Trong lời cám ơn vị giảng thuyết là ĐHY Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về văn hóa, ĐTC nói: ”Cám ơn ĐHY vì những con đường rất đẹp trong vũ trụ đức tin, trong vũ trụ các thánh vịnh. Chúng tôi bị thu hút vì vẻ đẹp, sự sâu xa, vẻ đẹp của vũ trụ đức tin này, và chúng tôi biết ơn vì Lời Chúa nói với chúng tôi một cách mới mẻ và một sức mạnh mới”.

ĐHY Ravasi đã giảng về đề tài ”Nghệ thuật tin, nghệ thuật cầu nguyện”. ĐTC nói: Tôi nghĩ đến sự kiện các thần học gia thời Trung Cổ đã dịch từ Logos không những bằng từ Verbum, Lời nhưng còn bằng từ ars, nghệ thuật. Logos không phải chỉ là một lý trí toán học, nhưng còn có một con tim và cũng là tình yêu.

ĐTC cũng nhắc đến một điều được vị giảng thuyết nói đến khi bàn về ngày thứ sáu của công trình tạo dựng của Thiên Chúa. ”Vẻ đẹp của công trình ấy bị sự ác trong trần thế này chống đối, bị đau khổ và sự hư họng chống lại. Như thể ma quỷ muốn làm nhơ bẩn mãi mãi công trình sáng tạo của Thiên Chúa, chống lại Thiên Chúa để làm cho chân lý và vẻ đẹp của Ngài không thể nhận ra được. Trong một thế giới mang đậm sự ác như thế, Logos, vẻ đẹp trường cửu và nghệ thuật vĩnh cửu phải xuất hiện như ”caput cruentatum”, tột đỉnh của những sự dữ dằn. Con Thiên Chúa nhập thể, Logos nhập thể, mang triều thiên là mão gai, nhưng chính trong hình ảnh đau khổ ấy của Con Thiên Chúa, mà chúng ta bắt đầu nhìn thấy vẻ đẹp sâu xa nhất của Đấng Tạo Hoa và Cứu Chuộc. Trong thinh lặng của đêm đen, chúng ta có thể lắng nghe Lời Chúa. Tin không là gì khác hơn là động chạm đến bàn tay Thiên Chúa, trong đêm đen của trần thế, lắng nghe Lời Chúa, nhìn thấy tình yêu”.

Sau cùng ĐTC cám ơn các HY và GM hiện diện không những vì tuần tĩnh tâm này, nhưng còn vì trong 8 năm qua, ”anh em đã cùng tôi mang gánh nặng sứ vụ Phêrô, với tất cả khả năng, tình yêu thương quí mến và niềm tin. Tôi vẫn giữ lòng biết ơn ấy, cho dù bây giờ chấm dứt sự hiệp thông bên ngoài, như ĐHY Ravasi đã nói, vẫn còn lại sự gần gũi tinh thần, còn lại tình hiệp thông sâu xa trong kinh nguyện”.

Tiếp kiến Tổng thống Italia

Trưa 23-2-2013, ĐTC đã mở lại các hoạt động bình thường và ngài tiếp kiến Tổng thống Italia, Ông Giorgio Napolitano, cùng với phu nhân, đến giã từ ngài vào lúc 11 giờ rưỡi.

Thông cáo của Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết cuộc gặp gỡ rất nồng nhiệt và thân mật, xét vì hai vị từ lâu rất quý chuộc và quen biết nhau.

Tổng thống Napoletano đã bày tỏ với ĐTC không những lòng biết ơn của nhân dân Italia vì sự gần gũi của ngài trong bao nhiêu biến cố quan trọng và vì giáo huấn rất cao quí của ngài về mặt tôn giáo và luân lý, và cả lòng quí mến mà nhân dân Italia sẽ tiếp tục tháp tùng ngài trong những năm tới đây.
Về phần ĐTC, một lần nữa ngài đã bày tỏ với Tổng thống và Phu nhân lòng biết ơn về tình thân hữu và ngài cầu chúc những điều tốt đẹp nhất cho Italia, đặc biệt trong những ngày này và trong thời gian đang có những chọn lựa quan trọng. (SD 23-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP



Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh tố giác một số báo chí xuyên tạc



VATICAN. Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, mạnh mẽ tố giác sự xuyên tạc và vu khống của một số cơ quan truyền thông về hoạt động của Tòa Thánh.

Nhiều bài báo trong những ngày này bịa ra những chuyện như có một nhóm ủng hộ đồng tính luyến ái, và những mưu đồ trong giới lãnh đạo tại Tòa Thánh, đã làm cho ĐTC Biển Đức 16 đi đến quyết định từ nhiệm.

Trong bài xã luận tựa đề ”Mùa thống hối” được truyền đi trên Đài Vatican hôm 23-2-2013, Cha Lombardi nói:

”Hành trình của Giáo Hội trong những tuần lễ cuối cùng của triều đại Giáo Hoàng của ĐTC Biển Đức 16, cho đến việc bầu cử vị Giáo Hoàng mới, qua thời kỳ ”Tòa Thánh trống vị” và mật nghị Hồng Y, rất là cam go, xét vì tình trạng mới mẻ. Chúng ta không phải đau buồn vì sự qua đời của một vị Giáo Hoàng kính mến, - và chúng ta vui mừng vì điều này-, nhưng chúng ta đang phải chịu một thử thách khác: đó là càng ngày càng có những sức ép và những nhận định xa lạ với tinh thần mà Giáo Hội muốn sống trong thời gian chờ đợi và chuẩn bị này.

”Thực vậy, không thiếu những kẻ lợi dụng lúc kinh ngạc và ngỡ ngàng của những người có tinh thần yếu đuối để gieo rắc hoang mang và sự mất uy tín cho Giáo Hội và các vị lãnh đạo Giáo Hội, bằng cách dùng đến những phương thế cổ xưa - như nói xấu, xuyên tạc, và đôi khi vu khống nữa - hoặc tạo sức ép không thể chấp nhận được để ảnh hưởng đến việc thực thi nghĩa vụ bầu cử của thành viên này hay thành viên khác trong Hồng y đoàn, cho rằng vị ấy không xứng đáng vì lý do này hay vì lý do khác.

”Trong phần lớn các trường hợp, người ta đặt mình làm quan án, đưa ra những phán đoán nặng nề về luân lý, trong thực tế, họ không có một thẩm quyền nào để làm như vậy. Người nào chỉ nghĩ đến trước tiên là tiền bạc, tính dục và quyền lực, và quen đọc những thực tại khác nhau theo các tiêu chuẩn như thế, thì không thể thấy điều gì khác, kể cả trong Giáo Hội, vì cái nhìn của họ không hướng lên cao hoặc đi sâu để lãnh hội những chiều kích và động lực thiêng liêng của cuộc sống. Kết quả là họ đưa ra một sự mô tả bất công nặng nề về Giáo Hội và bao nhiêu người của Giáo Hội.

”Nhưng tất cả những điều ấy sẽ không thay đổi thái độ của các tín hữu, không làm thương tổn đức tin và niềm hy vọng qua đó họ nhìn lên Chúa, Đấng đã hứa tháp tùng Giáo Hội của Ngài. Theo chỉ dẫn của truyền thống và giáo luật, chúng ta muốn rằng đây là thời kỳ suy tư chân thành về những mong đợi thiêng liêng của thế giới và về lòng trung thành của Giáo Hội đối với Tin Mừng, đây là lúc cầu xin ơn phù trợ của Chúa Thánh Linh, gần gũi Hồng y đoàn đang chuẩn bị thực hiện một công tác đòi nhiều cố gắng phân định và chọn lựa theo nghĩa vụ và là công tác chủ yếu của các vị.

”Trong lãnh vực này, tấm gương và sự ngay chính tinh thần của ĐTC Biển Đức tháp tùng chúng ta, ngài đã muốn dành giai đoạn cuối trong triều đại Giáo Hoàng này cho kinh nguyện vào đầu Mùa Chay. Một hành trình thống hối hoán cải để tiến tới niềm vui Phục Sinh. Đó là điều chúng ta đang và sẽ sống: hoán cải và hy vọng”

G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ cuối cùng trong tư cách là Giáo Hoàng



Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ cuối cùng trong tư cách là Giáo Hoàng


VATICAN. Lúc 5 giờ chiều 13-2-2013, ĐTC Biển Đức 16 đã cử hành lễ tro và cũng là thánh lễ cuối cùng trước sự hiện diện của đông đảo tín hữu, trong tư cách là Giáo Hoàng.
Đồng tế với ĐTC trong thánh lễ có lối 60 Hồng y và GM, trước sự hiện diện của các tín hữu ngồi chật thánh đường, cùng với nhiều vị trong ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.
Buổi lễ bắt đầu với cuộc rước thống hối do ĐTC chủ sự, đi từ cuối đền thờ tiến lên bàn thờ chính với sự tham dự của các tu sĩ dòng Biển Đức và Đa Minh cùng với các HY, GM đồng tế.
Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC nhắc đến truyền thống rất cổ kính cử hành chặng thứ I của mùa chay trong Vương cung thánh đường thánh Sabina trên đồi Avventino. Nhưng do hoàn cảnh đặc biệt, để nhiều người có thể tham dự, ”lễ này được cử hành tại Đền thờ Vatican chiều hôm nay, quanh mộ thánh Phêrô Tông Đồ, cũng với mục đích cầu xin sự chuyển cầu của thánh nhân cho hành trình của Giáo Hội trong lúc đặc biệt này, canh tân niềm tin của chúng ta nơi Vị Mục Tử Tối Cao là Chúa Kitô”. ĐTC nói:
”Đối với tôi, đây là cơ hội thuận tiện để cám ơn tất cả mọi người, nhất là các tín hữu thuộc giáo phận Roma, trong lúc tôi sắp kết thúc sứ vụ Phêrô, và tôi xin mọi người đặc biệt nhớ đến tôi trong kinh nguyện”.
Tiếp đến, ĐTC đã quảng diễn các bài đọc của thứ tư lễ tro, nhất là lời mời gọi hoán cải. ”Sự trở về cùng Chúa là điều có thể thực hiện được như 'ân thánh', vì đó là công trình của Thiên Chúa và là hoa quả của đức tin mà chúng ta đặt nơi lòng từ bi Chúa. Nhưng sự trở về cùng Chúa chỉ trở thành thực tại cụ thể trong đời sống chúng ta khi ơn thánh thấu nhập vào nội tâm sâu thẳm và đánh động tâm hồn, ban cho chúng ta sức mạnh của của sự ”xé lòng”. Ngôn sứ cũng làm vang dội những lời này của Thiên Chúa: 'Hãy xé lòng chứ đừng xé áo” (v.13). Thực vậy, cả ngày nay, nhiều người sẵn sàng xé áo trước những xìcăngđan và bất công, - dĩ nhiên là do người khác phạm - nhưng ít người dường như sẵn sàng hành động trên chính con tim, trên lương tâm, trên những ý hướng của mình, để cho Chúa biến cải, đổi mới và hoán cải”.
ĐTC nhắc nhở rằng lời kêu gọi hoán cải ấy không phải chỉ với tư cách cá nhân, nhưng cả với tư cách cộng đoàn. ”Chiều kích cộng đoàn là một yếu tố thiết yếu trong đức tin và trong đời sống Kitô. Chúa Kitô đã đến để ”tập họp những con cái Thiên Chúa bị tản mác” (Xc Ga 11,52)..”
ĐTC cũng nhấn mạnh lời ngôn sứ Gioel: ”Xin Chúa thương xót dân Chúa, đừng để cho gia nghiệp Chúa phải hổ thẹn, đừng để các dân tộc thống trị nó. Tại sao thiên hạ dám nói rằng: Chúa của chúng ở đâu?” (v.17). Ngài giải thích rằng: Lời cầu nguyện này làm cho chúng ta suy nghĩ về tầm quan trọng của chứng tá đức tin và đời sống Kitô của mỗi người chúng ta và các cộng đoàn của chúng ta để biểu lộ khuôn mặt của Giáo Hội và khuôn mặt này nhiều khi bị tủi hổ. Tôi đặc biệt nghĩ đến những tội chống lại sự hiệp nhất của Giáo Hội, những chia rẽ trong thân mình Hội Thánh. Sống mùa chay trong tình hiệp thông nồng nhiệt và hiển nhiên hơn của Giáo Hội, vượt thắng những thái độ cá nhân chủ nghĩa và cạnh tranh, đó là một dấu hiệu khiêm tốn và quí giá đối với những người xa lìa đức tin hoặc dửng dưng”.
ĐTC quảng diễn bài Tin Mừng theo thánh Mátthêu về việc làm phúc bố thí, cầu nguyện và ăn chay để đáp lại lời mời gọi hãy hết lòng trở về cùng Chúa. Ngài nói:

”Chúa Giêsu nhấn mạnh đặc tính chân thực của mỗi hành vi tôn giáo như là chất lượng và sự chân thật trong tương quan với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa tố giác thái độ tôn giáo giả hình, thái độ muốn xuất hiện, những thái độ tìm kiếm sự hoan hô và ủng hộ. Môn đệ chân chính không phục vụ bản thân hoặc ”công chúng”, nhưng là phục vụ Chúa, trong sự đơn sơ và quảng đại. ”Và Cha con, Đấng nhìn thấy trong nơi bí nhiệm, sẽ thưởng cho con” (Mt 6,4,6.18).
Và ĐTC kết luận rằng: ”Như thế chứng tá của chúng ta càng có ảnh hưởng quyết định hơn nếu chúng ta càng ít tìm kiếm vinh danh cho chúng ta và nếu chúng ta ý thức rằng phần thưởng của người công chính là chính Thiên Chúa, là được kết hiệp với Chúa, đời này trong hành trình đức tin, và vào cuối đời, trong an bình và trong ánh sáng cuộc gặp gỡ diện đối diện với Chúa mãi mãi” (Xc Cr 13,12).
Sau bài giảng là nghi thức làm phép và xức tro. ĐHY Angelo Comastri, Giám quản Đền thờ Thánh Phêro đã bỏ tro trên đầu ĐTC trước khi Ngài xức tro cho một số hồng y và một số linh mục tu sĩ dòng Đaminh và Biển Đức cùng với một số tín hữu.

Lời chào của ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh
Cuối thánh lễ, ĐHY Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã đại diện tất cả mọi người chào mừng ĐTC và nhắc đến quyết định giã từ sứ vụ GM Roma và Kế Vị Thánh Phêrô Tông Đồ:
”Kính thưa Đức Thánh Cha,
Với tâm tình rất xúc động và rất kính trọng, không những Giáo Hội nhưng cả thế giới đã hay tin về quyết định của ĐTC rời bỏ sứ vụ GM Roma và Người Kế Vị Thánh Phêrô.
”Thưa ĐTC, chúng con sẽ không thành thực nếu chúng con không nói với ĐTC rằng chiều hôm nay có một màn buồn sầu bao phủ tâm hồn chúng con. Trong những năm qua, Giáo Huấn của ĐTC là một cánh cửa sổ mở ra cho Giáo Hội và thế giới, để cho những tia sáng sự thật và tình thương của Thiên Chúa chiếu rọi vào, để mang ánh sáng và sức nóng cho hành trình của chúng con, nhất là trong những lúc mây đen dầy đặc che phủ”.
”Tất cả chúng con đã hiểu rằng chính lòng yêu mến sâu đậm của ĐTC đối với Thiên Chúa và Giáo Hội đã thúc đẩy ĐTC đi tới hành động từ nhiệm ấy, biểu lộ một tâm hồn thanh khiết, đức tin vững mạnh, sức mạnh của sự khiêm tốn và dịu hiền cùng với lòng can đảm mạnh mẽ, nổi bật trong mỗi bước tiến trong cuộc đời và sứ vụ của ĐTC, và chúng chỉ có thể đến từ sự ở với Chúa, ở dưới ánh sáng Lời Chúa, liên tục lên núi gặp gỡ Chúa để rồi trở xuống nơi xã hội con người.
“Kính thưa Đức Thánh Cha,

Cách đây vài ngài, ĐTC đã nói với các chủng sinh của Giáo Hội Roma rằng là Kitô hữu, chúng ta biết tương lai là của chúng ta, tương lai là của Thiên Chúa, và cây Giáo Hội luôn tiếp tục tăng trưởng. Giáo Hội luôn đổi mới, luôn tái sinh. Phục vụ Giáo Hội với ý thức mạnh mẽ Giáo Hội không phải là của chúng ta nhưng là của Thiên chúa, và không phải chúng ta xây dựng Giáo Hội, nhưng là Thiên Chúa, để có thể lên sự thật: ”Chúng ta là những đầy tớ vô dụng. Chúng ta chỉ làm điều chúng ta phải làm” (Lc 17,10), hoàn toàn tín thác nơi Chúa, đó là đại giáo huấn mà ĐTC, qua quyết định đau thương này, không những dành cho chúng con là những Mục tử của Giáo Hội, nhưng còn cho toàn thể Dân Chúa.

”Thánh Lễ là cảm tạ Thiên Chúa. Chiều hôm nay chúng con muốn cảm tạ Chúa vì hành trình mà toàn thể Giáo Hội đã thực hiện dưới sự hướng dẫn của ĐTC và chúng con muốn nói với ĐTC tự thâm tâm chúng con, với tất cả lòng quí mến, xúc động và ngưỡng mộ rằng: Cám ơn ĐTC vì đã cho chúng con tấm gương rạng người về người thợ đơn sơ và khiêm tốn trong vườn nho của Chúa, nhưng là một người thợ đã muốn thực hiện trong mọi lúc điều quan trọng nhất để mang Chúa đến cho con người và đưa con người về cùng Thiên Chúa”.

G. Trần Đức Anh OP

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

XIN BỎ NGOÀI TAI NHỮNG TIN ĐỒN VÔ CĂN CỨ CỦA CÁC TIÊN TRI GIẢ.



Hỏi và trả lời


XIN BỎ NGOÀI TAI NHỮNG TIN ĐỒN VÔ CĂN CỨ CỦA CÁC TIÊN TRI GIẢ.


Nhân biến cố Đức Thánh Cha Biển Đức XVI từ chức, trong mấy ngày qua, nhiều tin đồn đã được đưa ra trên Internet về việc chọn Đức Giáo Hoàng mới, gây hoang mang cho nhiều tín hữu khi vô tình đọc được những tin này qua emails

Cụ thể , các “tiên tri” giả này đã phóng đại tưởng tượng của họ về Tân Giáo Hoàng sẽ là người thế này thế nọ và còn “tiên tri” rằng ngày tận thế đã gần kề và quỉ vương sẽ ra đời !.

Liên quan cụ thể đến điều họ gán cho ngôn sứ Malachi đã “tiên tri” về tân Giáo hoàng, xin được minh xác như sau:

1- Tiên tri hay Ngôn sứ Malachi (hay Malakia = Sứ thần của Ta) là ngôn sứ cuối cùng trong thời Cựu Ước, sống vào khoảng thế kỷ thứ V trước Chúa Giáng Sinh. Sách của ngài chỉ có 3 chương được chia làm hai phần nói về tình thương của Chúa đối với dân Israel và phê phán giới tư tế đã không chu toàn trách nhiệm tế lễ của họ.

Cụ thể, qua miệng ngôn sứ, Thiên Chúa nhắc lại tình thương của Người cho Israel mặc dù dân này luôn phản bội, hoài nghi tình thương của Chúa: “ Ta đã yêu thương các ngươi, Đức Chúa phán,thế mà các ngươi nói: Ngài yêu thương chúng con ở chỗ nào ?" ( Ml 1:2)

2- Không những dân Israel bội bạc với Chúa, sống xa đường lối của Người, mà hàng tư tế Israel cũng không chu toàn nhiệm vụ tế lễ của họ cách xứng hợp khiến Chúa đã phải quở trách họ như sau: “Ta chẳng hài lòng chút nào về các ngươi, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán, và Ta chẳng ưng thuận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng.” ( Ml 1 :10)

Như thế cho thấy là ngôn sứ Malachi chỉ nói về dân Do Thái phản bội tình thương bao la của Thiên Chúa dành cho họ, cũng như nói về hàng tư tế Do Thái đã không chủ trọng thi hành nhiệm vụ tế lễ của họ mà thôi. Tuyệt nhiên, ngôn sứ Malachi không tiên tri điều gì về các thế hệ tương lai khiến người ta có thể dựa vào để tiên đoán về những việc sẽ xảy ra trong Giáo Hội sau này.

Có chăng là những lời “tiên tri” mà người ta gán cho Thánh Malachy (1094-1148), Tổng giám mục Armagh, người đã có công canh tân phụng vụ Ái Nhĩ Lan dựa theo Phụng Vụ Rôma cũng như đã góp phần tái lập kỷ luật của Giáo Hội và đưa các tu sĩ Dòng Xi-tô (Cistercian Monks) vào Ái Nhĩ Lan (Ireland).

Ngài mất năm 1148 trong Tu viện Clairvaux (Pháp) và ít năm sau được phong thánh. Lễ kinh ngài là ngày 2 tháng 11.

Sau khi ngài mất năm 1148, đến thế kỷ 16, người ta thấy xuất hiện những lời “tiên tri” gán cho ngài là tác giả. Những lời tiên tri huyền hoặc này nói về 111 vị Giáo Hoàng kế tiếp lên ngôi sau khi Đức Giáo Hoàng Celestine II qua đời năm 1144. Mỗi vị Giáo Hoàng kế vị đó đều được mang một biệt danh bằng tiếng Latinh . Nhưng cho đến nay, không một lời “tiên tri” nào của ai bịa đặt nói trên đã ứng nghiệm với các Giáo Hoàng nối tiếp lên ngôi sau Giáo Hoàng Celestine II như những lời “tiên tri “ huyền hoặc kia đã bịa đặt.

Nay nhân việc Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đột nhiên từ chức vì lý do sức khỏe, và trong lúc Giáo Hội sắp tiến hành thủ tục bầu Tân Giáo Hoàng lên thay thế, một số người giầu tưởng tượng và muốn làm “tiên tri” đã vội vin vào những lời tiên tri giả gán cho thánh Malachy, lưu truyền từ thế kỷ 16, để đưa ra những lời “tiên tri hoang đường” về Tân Giáo Hoàng sắp được bầu lên để kế vị Đức Thánh Cha Biển Đức XVI..

Chắc chắn đây là những lời “tiên đoán huyền hoặc” không có chút cơ sở giáo lý, Kinh thánh hay tài liệu căn bản nào của Giáo hội cho người tín hữu tin và hy vọng.

Do đó, là tín hữu chân chính, chúng ta chỉ nên cầu nguyện để Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ dẫn cho các Hồng Y sắp họp Mật Nghị (Conclave) để các ngài chọn đúng người Chúa muốn lên kế vị Đức Thánh Cha Biển Đức để cai trị Giáo Hội và chăn dắt toàn dân Chúa trong giai đoạn mới này mà thôi.. Vị tân Giáo Hoàng chắc sẽ không phải là người mà những “tiên tri giả” kia đang loan truyền. Nghĩa là chúng ta phải bỏ ngoài tai mọi lời “tiên tri giả” mọi tin đồn vô căn cứ, mọi suy đoán theo khôn ngoan của người đời quanh việc chọn Tân Giáo Hoàng cho Giáo Hội.

Đây phải là công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hiện diện và dẫn dắt Giáo Hội của Chúa Kitô từ thủa sơ khai ban đầu cho đến ngày này và còn mãi về sau cho đến ngày cánh chung.

Có thể nói : nếu không có Chúa Thánh Thần hiện diện và dìu dắt, thì Giáo Hội không thể trường tồn và huy hoàng như ngày nay được, vì có quá nhiều “sóng gió” làm nghiêng ngửa Con Thuyền Phêrô, chở Giáo Hội trong quá khứ..

Mặc dù có thời Giáo Hội đã sai lầm trong việc chọn các vị lãnh đạo cũng như sai lầm trong việc điều hành, nhưng Chúa Thánh Thần đã giúp Giáo Hội kịp sửa sai để trở nên Hiền Thê đích thực và trung tín của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập và yêu thương Giáo Hội là Hiền Thê, là Thân Thể Nhiệm mầu của Người trong trần thế.

Vậy Chúng ta hãy sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần trong những ngày này để Người hướng dẫn Giáo Hội - cụ thể là các Hồng Y sắp nhóm họp, để các ngài chọn đúng Chủ Chăn mới cho Giáo Hội, đáp đúng nhu cầu rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng trong hoàn cảnh quá nhiễu nhương và thách đố của thế giới hiện nay. Chắc chắn Chúa Thánh Thần sẽ nâng đỡ và dẫn dắt Giáo Hội trong mọi lãnh vực để giúp Giáo hội chu toàn sứ mệnh mà Chúa Kitô đã trao phó.

Lm.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Lm Phanxico Xavie Ngô Tôn Huấn - 17-2-2013

Tin Giáo Hội Hoàn Vũ. Tháng 2 năm 2013



Tuần tĩnh tâm mùa chay của Đức Thánh Cha


VATICAN. Từ chiều chúa nhật 17-2 vừa qua, ĐTC và các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh đang tham dự tuần tĩnh tâm mùa chay cho đến sáng thứ bẩy 23-2 tới đây.

Cuộc tĩnh tâm khai mạc lúc 6 giờ chiều với nghi thức đặt Mình Thánh Chúa, hát Kinh Chiều, kể đến là bài suy niệm mở đầu của ĐHY Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về văn hóa, rồi chầu và phép lành Mình Thánh Chúa kết thúc.

Trong bài suy niệm dẫn nhập, ĐHY Ravasi đã ám chỉ tới việc ĐTC Biển Đức 16 sẽ lui về Đan viện Mẹ Giáo Hội ở nội thành Vatican để sống trong ẩn dật, cầu nguyện, và ĐHY ví ngài như Ông Môise trong cuộc chiến đấu giữa Israel và quân binh của Amelek. Như Ông Môisê, nhờ lời cầu nguyện trên núi mà củng cố đoàn quân Israel, chức năng chính của ĐTC Biển Đức 16 sẽ là cầu nguyện cho Giáo Hội. ĐHY nói:

”Chúng ta ở lại thung lũng nơi có Amalek, nơi có bụi mù, lo âu, với những điều kinh khủng, nhưng cũng có những giấc mơ và hy vọng. Nhưng ngay từ bây giờ chúng ta biết rằng trên núi có người chuyển cầu cho chúng ta”.
ĐHY Ravasi cũng nói có sẽ thỉnh thoảng sẽ có những vị trong giáo triều leo lên núi ấy để nâng đỡ cánh tay của ngài giang ra trong lúc cầu nguyện. Theo chương 17 trong sách Xuất Hành, bao lâu Môisê giang tay cầu nguyện, thì Israel chiếm ưu thế so với quân đội của Amalek. Và nếu cánh tay của Ông hạ xuống, thì Israel cũng bị yếu thế”.
ĐHY Ravasi mô tả cuộc tĩnh tâm của giáo triều Roma hiện nay giống như để ”giải thoát tâm hồn khỏi bụi bặm của sự đời, khỏi bùn nhơ của tội lỗi và cát bụi của sự tầm thường, khỏi những chuyện tầm phào mà tai chúng ta liên lỷ phải nghe trong những ngày nay”.

Vị Giảng tĩnh tâm mời gọi mọi người hãy tạo nên sự thinh lặng trong tâm hồn, giải thoát mình khỏi bao nhiêu tiếng ồn ào của đời sống thường nhật. Trong đức tin cũng như trong đức ái, sự thinh lặng thường hùng hồn hơn lời nói”.

ĐHY Ravasi năm nay 70 tuổi, là một học giả Kinh Thánh nổi tiếng, tác giả của rất nhiều sách báo, được ĐTC bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Văn hóa hồi tháng 9 năm 2007. Ngài cũng là Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng latinh. Cũng năm đó ngài được ủy thác nhiệm vụ soạn các bài suy niệm cho buổi đi Đàng Thánh Giá trọng thể do ĐTC chủ sự tối thứ sáu Tuần Thánh tại hí trường Colosseo ở Roma.

Đề tài tổng quát của tuần tĩnh tâm hiện nay là ”Nghệ thuật cầu nguyện, nghệ thuật tin. Tôn nhan Thiên Chúa và khuôn mặt con người trong kinh nguyện thánh vịnh”.

Mỗi ngày có 3 bài suy niệm của ĐHY giảng thuyết lần lượt sau Kinh Ngợi Khen lúc 9 giờ sáng, kinh Giờ Ba lúc 10 giờ 15, và lúc 5 giờ chiều được nối tiếp với Kinh Chiều và Chầu Mình Thánh Chúa. (SD 18-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha giã từ hàng giáo sĩ Roma


VATICAN. Sáng 15-2-2013, ĐTC Biển Đức 16 đã gặp gỡ lần cuối và từ giã hàng giáo sĩ của giáo phận Roma.
Hàng năm, vào ngày thứ năm sau lễ tro, ĐTC vẫn gặp gỡ và trao đổi với hàng giáo sĩ Roma, nhưng lần này có một sắc thái đặc biệt vì là lần chót. Hiện diện tại Đại thính đường Phaolô 6 lúc 11.45 có ĐHY Giám quản Agosto Vallini, 7 GM phụ tá và lối 1.500 linh mục.

Các LM đã nồng nhiệt vỗ tay chào đón ĐTC khi ngài tiến vào thính đường.

Trong lời chào ĐTC, ĐHY Vallini đã gợi lại sự tích các kỳ lão tại thành Ephêsô được thánh Phaolô gọi tới Mileto để nghe những lời từ giã của thánh nhân trước khi ngài đi Jerusalem. ”Anh em biết tôi đã cư xử thế nào.. Tôi đã phụng sự Chúa với tất cả lòng khiêm tốn, trong nước mắt và thử thách..; tôi đã không bao giờ thối lui trước những gì có thể là hữu ích, để rao giảng và giáo huấn anh em.. làm chứng về sự trở về cùng Thiên Chúa và niềm tin nơi Đức Giêsu Chúa chúng ta.. Mọi người đã bật khóc và bá cổ thánh Phaolô và hôn” (Cv 20,18-20).
ĐHY Giám quản nói: ”Kính thưa ĐTC, chúng con không giấu rằng trong tâm hồn chúng con nhiều tâm tình: buồn rầu và tôn kính, ngưỡng mộ và nuối tiếc, yêu mến và hãnh diện. Trong tất cả những điều đó chúng con tôn thờ Thánh Ý Chúa và đón nhận từ ĐTC giáo huấn về cách thức yêu mến và phụng sự Chúa Kitô và Giáo Hội. Chúng con mãi mãi gắn bó với gương sống dịu hiền và mạnh mẽ của Ngài”.

Bài nói chuyện của ĐTC
Mở đầu bài nói chuyện dài 45 phút, ĐTC cho biết ngài không còn sức để ”làm một bài diễn văn lớn”, nhưng trong thực tế ngài đã chứng tỏ tâm trí rất sáng suốt và minh mẫn, ứng khẩu kể lại kinh nghiệm của ngài về công đồng chung Vatican 2, từ khi làm thư ký của ĐHY Frings TGM giáo phận Koeln, và sau đó được bổ nhiệm làm chuyên gia chính thức của Công đồng. Ngài nói:

”Tôi bắt đầu bằng một giai thoại: năm 1959 tôi được bổ nhiệm làm giáo sư ở Đại học Bonn, nơi có các sinh viên, chủng sinh của giáo phận Koeln và các giáo phận lân cận theo học. Vì thế tôi được dịp tiếp xúc với ĐHY Frings. Hồi năm 1961, ĐHY Siri, TGM giáo phận Genova, đã tổ chức một loạt các bài thuyết trình về Công đồng, với các thuyết trình viên là một số Hồng y Âu Châu. ĐHY Siri cũng mời ĐHY TGM Koeln thuyết trình về đề tài “Công đồng và thế giới của tư tưởng tân thời”. ĐHY Frings đã mời tôi là giáo sư trẻ nhất soạn cho ngài dự thảo bài thuyết trình, và ĐHY đã trình bày cho dân chúng ở Genova bài thuyết trình mà tôi đã viết. Ít lâu sau ĐHY Gioan 23 mời ĐHY Frings đến gặp. ĐHY rất lo sợ vì e rằng mình đã nói điều gì không đúng hoặc sai trái, và bị ĐGH gọi để khiển trách, và có lẽ để tước bỏ mũ hồng y (các LM cười rộ!). Đúng vậy, khi cha thư ký của ĐHY giúp ngài mặc áo để vào chầu ĐGH, ngài nói: ”Có lẽ bây giờ tôi mặc chiếc áo HY này lần chót!”.

Nhưng khi ĐHY Frings vào gặp ĐGH Gioan 23, ĐGH tiến đến gặp và ôm lấy ĐHY và nói: ”Cám ơn ĐHY vì đã nói điều mà tôi muốn nói, nhưng tôi không tìm được lời để nói cho đúng” (các cha sở lại cười rộ và vỗ tay). Thế là ĐHY Frings biết mình đang đi đúng đường và ĐHY đã mời tôi đi công đồng với ngài, trước tiên như một chuyên gia riêng, rồi trong giai đoạn đầu tiên, có lẽ vào tháng 11-1962, tôi cũng được bổ nhiệm làm chuyên gia chính thức của Công đồng”.

ĐTC đã nói đến tiến trình soạn thảo các văn kiện, việc bầu cử các Ủy ban, sự phong phú của các văn kiện.
ĐTC cũng nhận xét về hai nhận thức về Công đồng: một công đồng trong thực tại và một công đồng do giới báo chí trình bày, nhiều khi dưới nhãn giới chính trị, một cuộc tranh đấu quyền bính, dân chủ hóa, quyền bính thuộc về giai cấp hạ tầng. Họ nói nhiều đến sự tản quyền trong Giáo Hội, quyền bính dành cho các GM, qua lời của Dân Chúa, quyền bính của nhân dân, của giáo dân.

Về phụng vụ, thứ công đồng của giới báo chí không quan tâm đến phụng vụ như một hành vi đức tin, nhưng như một thứ trong đó người ta làm những điều có thể hiểu được, một thứ hoạt động của cộng đồng, một điều trần thục.

ĐTC nhận xét rằng thứ công đồng của giới truyền thông như thế, hay công đồng tiềm thể, đi tới mọi người, và có hiệu năng hơn, nhưng nó tạo nên bao nhiêu thảm hại, bao nhiêu vấn đề và lầm than trong thực tế: các tu viện, học viện chủng viện bị đóng cửa, phụng vụ bị tầm thường hóa, và công đồng đích thực gặp gó khăn trong việc cụ thể hóa, và trong việc thực hiện. Công đồng tiềm thể của giới truyền thông mạnh mẽ hơn công đồng thực sự.
ĐTC kết luận rằng tôi thấy 50 năm sau Công đồng, thứ công đồng tiềm thể ấy bị tan vỡ, bị mất đi, và xuất hiện công đồng đích thực với tất cả sức mạnh tinh thần, và nghĩa vụ chúng ta trong năm Đức tin này là làm việc để côgn đồng đích thực, với sức mạnh của Thánh Linh, được thể hiện và Giáo Hội được canh tân đích thực”.

ĐTC cũng nói rằng ”cho dù tôi rút lui vào đời sống đầu nguyện, nhưng tôi luôn luôn gần gũi anh em và tôi chắc chắn rằng anh em cũng gần gũi tôi, cho dù đối với thế giới, tôi ở ẩn”. (SD 14-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha Biển Đức 16 tuyên bố từ chức


VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 rời bỏ chức vụ Giáo Hoàng kể từ lúc 20 giờ ngày thứ năm, 28-2 tới đây.
Trong công nghị lúc 11 giờ sáng hôm qua, 11-2, trước sự hiện diện của các Hồng y và GM, ĐTC tuyên bố:

“Anh em rất thân mến.

”Tôi triệu tập anh em đến dự Công nghị này không phải để chỉ nói về 3 cuộc phong thánh, nhưng còn để thông báo cho anh em một quyết định rất quan trọng đối với đời sống Giáo Hội. Sau khi nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự chắc chắn rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp nữa để thi hành sứ vụ Phêrô một cách thích đáng nữa. Tôi ý thức rõ sứ vụ này, do yếu tính thiêng liêng, phải được chu toàn không những bằng hoạt động và bằng lời nói, những còn bằng đau khổ và cầu nguyện. Tuy nhiên, trong thế giới ngày nay, đang chịu những biến chuyển mau lẹ và bị giao động vì những vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với đời sống đức tin, để cai quản con thuyền của Thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, cần có nghị lực cả thể xác lẫn tâm hồn, nghị lực mà trong những tháng gần đây bị suy giảm nơi tôi đến độ tôi phải nhìn nhận mình không có khả năng thi hành tốt sứ mạng đã được trao phó cho tôi. Vì thế, với ý thức rõ ràng về hành vi hệ trọng này, với tự do hoàn toàn, tôi tuyên bố từ bỏ sứ vụ Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô, được ủy thác cho tôi do tay các Hồng Y ngày 19 tháng 4 năm 2005, để từ ngày 28 tháng 2 năm 2013 sắp tới, Tòa Roma, Tòa Thánh Phêrô sẽ trống tòa từ lúc 20 giờ và những ai có thẩm quyền cần phải triệu tập Mật Nghị Hồng Y để bầu vị Giáo Hoàng mới”.

”Anh em rất thân mến, tôi chân thành cám ơn anh em vì tất cả lòng quí mến và công việc mà anh em đã cùng mang gánh nặng sứ vụ của tôi, và tôi xin lỗi vì tất cả những thiếu sót của tôi. Giờ đây, chúng ta hãy phó thác Hội Thánh cho vị Mục Tử Tối Cao, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và cầu xin Mẹ Maria của Ngài, với lòng từ mẫu xin Mẹ trợ giúp các Hồng Y trong việc bầu vị Giáo Hoàng mới. Về phần tôi, cả trong tương lai, tôi muốn hết lòng phục vụ Hội Thánh của Thiên Chúa bằng cuộc sống dành trọn cho việc cầu nguyện”.

Vatican ngày 11 tháng 2 năm 2013

Biển Đức 16, Giáo Hoàng

G. Trần Đức Anh chuyển ý
Text of Pope Benedict XVI's resignation
Here is the text of the pope's resignation.
Dear Brothers,
I have convoked you to this Consistory, not only for the three canonizations, but also to communicate to you a decision of great importance for the life of the Church. After having repeatedly examined my conscience before God, I have come to the certainty that my strengths, due to an advanced age, are no longer suited to an adequate exercise of the Petrine ministry. I am well aware that this ministry, due to its essential spiritual nature, must be carried out not only with words and deeds, but no less with prayer and suffering. However, in today's world, subject to so many rapid changes and shaken by questions of deep relevance for the life of faith, in order to govern the bark of Saint Peter and proclaim the Gospel, both strength of mind and body are necessary, strength which in the last few months, has deteriorated in me to the extent that I have had to recognize my incapacity to adequately fulfill the ministry entrusted to me. For this reason, and well aware of the seriousness of this act, with full freedom I declare that I renounce the ministry of Bishop of Rome, Successor of Saint Peter, entrusted to me by the Cardinals on 19 April 2005, in such a way, that as from 28 February 2013, at 20:00 hours, the See of Rome, the See of Saint Peter, will be vacant and a Conclave to elect the new Supreme Pontiff will have to be convoked by those whose competence it is.
Dear Brothers, I thank you most sincerely for all the love and work with which you have supported me in my ministry and I ask pardon for all my defects. And now, let us entrust the Holy Church to the care of Our Supreme Pastor, Our Lord Jesus Christ, and implore his holy Mother Mary, so that she may assist the Cardinal Fathers with her maternal solicitude, in electing a new Supreme Pontiff. With regard to myself, I wish to also devotedly serve the Holy Church of God in the future through a life dedicated to prayer.
From the Vatican, 10 February 2013
BENEDICTUS PP XVI

Tuyên bố của Đức Hồng Y niên trưởng của Hồng Y đoàn


VATICAN. Giáo Triều Roma ngỡ ngàng vì lời tuyên bố từ chức của Đức Thánh Cha.

ĐTC công bố quyết định từ chức vào cuối công nghị Hồng y đoàn bắt đầu lúc 11 giờ sáng ngày 11-2-2013 tại dinh Tông Tòa.

Sau kinh giờ Sáu, ĐTC Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, đã đọc tiểu sử của các vị sẽ được phong thánh để xin ĐTC ấn định ngày tôn phong.

Sau nghi thức này, ĐTC ngồi xuống và ngài đọc tuyên ngôn thông báo từ chức. Kế đến, ĐHY Angelo Sodano niên trưởng Hồng y đoàn, đã đại diện mọi người, nói với ĐTC rằng:

”Kính Thưa Đức Thánh Cha, Người Kế Vị quí mến và đáng kính của Thánh Phêrô,

”Sứ điệp cảm động của ĐTC đã vang lên trong Hội trường này như một tiếng sấm giữa trời thanh quang. Chúng con ngỡ ngàng khi nghe sứ điệp ấy, như thể không tin được. Trong những lời của ĐTC, chúng con nhận thấy có lòng yêu mến nồng nhiệt của ĐTC đối với Hội Thánh của Chúa, đối với Giáo Hội mà ĐTC đã yêu mến dường nào. Giờ đây, xin cho phép con nhân danh cộng đoàn tông đồ này, Hồng y đoàn, nhân danh tất cả những cộng sự viên quí mến của ĐTC, để nói rằng chúng con gần gũi với ĐTC hơn bao giờ hết, cũng như chúng con đã gần gũi với ĐTC trong 8 năm rạng ngời triều đại Giáo Hoàng của ĐTC. Ngày 19 tháng 4 năm 2005, nếu con nhớ rõ, vào cuối Mật nghị, với giọng hồi hộp cảm động con đã hỏi ĐTC: ”Ngài có nhận việc bầu cử hợp pháp làm Giáo Hoàng hay không?”, và cũng với sự hồi hộp, ngài đã không trì hoãn trả lời chấp nhận, với niềm tín thác nơi ơn Chúa và trong sự chuyển cầu của Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội. Như Mẹ Maria, ngày hôm ấy, ĐTC đã thưa ”xin vâng” và đã khởi đầu một triều đại Giáo Hoàng sáng ngời, trong sự tiếp tục, một sự tiếp tục mà Ngài đã nói với chúng con nhiều lần trong lịch sử Giáo Hội, trong sự tiếp nối với 265 vị tiền nhiệm của Ngài trên ngai tòa thánh Phêrô, qua 2 ngàn năm lịch sử, từ Thánh Phêrô người ngư phủ khiêm hạ miền Galilea, cho đến các vị đại Giáo Hoàng trong thế kỷ vừa qua, từ thánh Piô 10 cho đến chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2. Kính thưa Đức Thánh Cha, trước ngày 28 tháng 2, như Ngài đã nói, ngày mà Ngài muốn chấm dứt sứ vụ Giáo Hoàng được chu toàn với tất cả lòng yêu mến, lòng khiêm nhường, trước ngày 28-2, chúng con sẽ có dịp biểu lộ rõ hơn tâm tình của chúng con. Cũng như bao nhiêu vị mục tử và tín hữu rải rác trên thế giới, cũng như bao nhiều người thiện chí cùng với chính quyền của bao nhiêu nước. Rồi trong tháng này, chúng con còn được niềm vui nghe tiếng vị chủ chăn, ngay trong ngày thứ tư lễ tro tới đây, rồi ngày thứ năm, với hàng giáo sĩ Roma, trong những buổi đọc kinh Truyền Tin những ngày chúa nhật, trong các buổi tiếp kiến ngày thứ tư. Vì thế còn bao nhiêu dịp để nghe tiếng nói hiền phụ của ĐTC. Nhưng sứ vụ của Ngài sẽ tiếp tục. Ngài đã nói rằng sẽ luôn gần gũi chúng con với chứng tá và lời cầu nguyện của Ngài. Dĩ nhiên, những ngôi sao trên trời sẽ tiếp tục chiếu sáng và sẽ luôn chiếu sáng giữa chúng con ngôi sao triều đại giáo hoàng của Ngài. Chúng con gần gũi Đức Thánh Cha, xin chúc lành cho chúng con.

Trong cuộc họp báo trưa ngày 11-2-2013, Cha Lombardi cho biết sau khi Tòa Thánh bắt đầu trống tòa, tức là từ 20 giờ ngày 28-2-2013, ĐTC Biển Đức 16 sẽ di chuyển ra dinh thự Castel Gandolfo, trong khi chờ đợi Nữ Đan viện chiêm niệm ở Nội thành Vatican được sửa chữa xong và ngài sẽ cư ngụ tại đó.

Về việc cai quản Tòa Thánh sau khi trống tòa, đã có Tông hiến được Đức Gioan Phaolô 2 công bố về vấn đề này. Các Hồng Y sẽ được triệu tập về Roma để tiến hành việc bầu cử Giáo Hoàng mới. Lần này sẽ mau lẹ hơn vì không có chương trình 9 ngày lễ an táng Đức Cố Giáo Hoàng. Việc bầu cử có thể tiến hành trong tháng 3-2013 và trước lễ Phục Sinh có thể Giáo Hội sẽ có vị Giáo Hoàng mới.

G. Trần Đức Anh OP
Họp báo của cha Lombardi về việc Đức Thánh Cha từ chức


VATICAN. Cha Lombardi  , Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết sau khi Tòa Thánh bắt đầu trống tòa, tức là từ 20 giờ ngày 28-2, ĐTC Biển Đức 16 sẽ di chuyển ra dinh thự Castel Gandolfo, trong khi chờ đợi Nữ Đan viện chiêm niệm ở Nội thành Vatican được sửa chữa xong và ngài sẽ cư ngụ tại đó.

Nữ Đan viện này được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 thành lập để hỗ trợ công việc của ngài, nhưng hiện không còn nữ tu nữa.

Trong cuộc họp báo trưa ngày 11-2-2013, Cha Lombardi nhấn mạnh rằng việc ĐTC tuyên bố từ chức hoàn toàn phù hợp với Giáo luật khoản số 332 triệt 2, qui định ”Trong trường hợp ĐGH từ chức, thì để có hiệu lực, việc từ chức này phải được thực hiện tự do và được biểu lộ một cách phải phép, và không cần phải có ai chấp nhận việc từ chức đó”.

ĐTC Biển Đức 16 cho biết ngài hoàn toàn tự do quyết định từ chức và biểu lộ quyết định đó trước công nghị Hồng y gồm đa số các vị Hồng y hiện diện ở Roma.

Cha Lombardi nhắc lại rằng trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Peter Seewald người Đức hồi năm 2010 và được xuất bản thành cuốn sách với tựa đề ”Ánh sáng thế gian”, ký giả đã hỏi ĐTC có bao giờ nghĩ đến việc từ chức hay không. Ngài đáp: ”Khi có nguy hiểm thì không thể bỏ chạy, vì thế đây không phải là lúc từ chức (Ngài ám chỉ đến những vấn đề lạm dụng tính dục trong Giáo hội bấy giờ và các vấn đề khác), chính trong lúc như thế cần phải kháng cự và vượt thắng tình trạng khó khăn. Đó là ý tưởng của tôi. Người ta có thể từ chức trong một lúc thanh thản, hoặc khi không thể tiếp tục được nữa, chứ không thể bỏ chạy trong lúc nguy hiểm, và nói 'để cho người khác lo'. Vì thế, ĐTC đã từng nói những khó khăn không phải là lý do để từ chức. Trái lại những khó khăn đó là lý do để không từ chức.

Đáp câu hỏi thứ hai của ký giả Seewald: ”Vậy có thể tưởng tượng được một hoàn cảnh trong đó Ngài nghĩ rằng vị Giáo Hoàng từ chức là điều thích hợp?”. Câu trả lời của ĐTC là: ”Đúng vậy, khi một Giáo Hoàng đi tới ý thức rõ ràng mình không thể chu toàn về thể lý, tâm trí và tinh thần, trách vụ được ủy thác thì ngài có quyền, và trong một số hoàn cảnh ngài có nghĩa vụ từ chức”.

Cha Lombardi cũng nhắc lại rằng Tông Hiến ”Universi Dominici Gregis” (Mục Tử toàn thể đoàn chiên Chúa) mang chữ ký của ĐTC Gioan Phaolô 2 ngày 22-2-1996, lễ kính Tòa Thánh Phêrô, là văn kiện theo đó Tòa Thánh được điều hành sau khi Tòa Thánh trống tòa. Văn kiện này đã được áp dụng trong thời sau khi Đức chân phước Gioan Phaolo 2 qua đời hồi đầu tháng 4-2005. Hồng y đoàn sẽ cai quản Giáo Hội trong thời kỳ đó. Các Hồng y tổng trưởng và TGM Chủ tịch các cơ quan trung ương Tòa Thánh ngưng nhiệm vụ và chỉ có vị Tổng thư ký điều hành công việc của cơ quan liên hệ, ngoại trừ vị Hồng Y nhiếp chính, ĐHY Chánh tòa ân giải tối cao, v.v.
Các Hồng Y cử tri (dưới 80 tuổi) sẽ được triệu tập về Roma để tiến hành việc bầu cử Giáo Hoàng mới. Lần này sẽ mau lẹ hơn vì không có chương trình 9 ngày lễ an táng Đức Cố Giáo Hoàng. Việc bầu cử có thể tiến hành trong tháng 3-2013.

Có người dự đoán cuộc bầu cử Giáo Hoàng mới có thể tiến hành trong khoảng từ ngày 14 đến 19-3-2013.
Từ nay đến 28-2-2013, chương trình hoạt động của ĐTC, các buổi tiếp kiến, các buổi lễ sẽ tiếp tục như cũ. (SD 11-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha gặp gỡ công nghị các GM Công Giáo Canđê


VATICAN. Sáng hôm 4-2-2013, ĐTC đã tiếp kiến Công nghị Giáo Hội Công Giáo Canđê gồm 20 vị, dưới sự hướng dẫn của Đức Tân Thượng Phụ Louis Sako.

Buổi tiếp kiến diễn ra trước thánh lễ hiệp thông do Đức Thượng Phụ và các GM Canđê cử hành tại Đền thờ thánh Phêrô. Đại diện ĐTC tại buổi lễ có ĐHY Leonardo Sandri Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương.
Trong thánh lễ, có đọc thư của ĐTC chúc mừng và ban sự hiệp thông Giáo Hội cho Đức tân Thượng Phụ Sako. Ngài viết:

”Tôi nồng nhiệt chúc mừng và cầu xin Chúa ban cho Đức Thượng Phụ dồi dào mọi ân sủng và phúc lành. Xin Chúa soi sáng cho Đức Thượng Phụ trong việc công bố Tin Mừng không biết mệt mỏi theo truyền thống sinh động có từ thời thánh Tômasô Tông Đồ. Ước gì Vị Mục Tử nhân lành và vĩnh cửu nâng đỡ Đức Thượng Phụ trong niềm tin của cha ông và ban cho Đức Thượng Phụ lòng nhiệt thành của các vị tử đạo xưa kia và ngày nay để bảo tồn gia sản linh đạo và phụng vụ của Giáo Hội Canđê đáng kính, trong tư cách Đức Thượng Phụ là Cha và là Thủ Lãnh. Ước gì sứ vụ của Đức Thượng Phụ là niềm an ủi cho các tín hữu Canđê tại quê mẹ cũng như tại hải ngoại, và cho cả toàn thể cộng đồng Công Giáo và các tín hữu Kitô đang sống tại quê hương của Tổ Phụ Abraham, như một khích lệ hòa giải, đón nhận nhau và hòa bình cho toàn thể nhân dân Irak”.

Sau thánh lễ, Đức Thượng Phụ và các GM Công Giáo Canđê đã đến trước mộ thánh Phêrô Tông Đồ, lập lại lời tuyên xưng đức tin tông truyền.

Giáo Hội Công Giáo Canđê có 550 ngàn tín hữu tại Irak trước khi Hoa Kỳ và đồng minh đánh chiếm nước này ngày 20-3-1993. Ở hải ngoại có 200 ngàn tín hữu, nhưng nay chỉ còn lại 200 ngàn tín hữu ở trong nước và phần còn lại phải di tản ra nước ngoài. (SD 4-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha cử hành Ngày Đời Sống Thánh Hiến


VATICAN. ĐTC mời gọi những người thánh hiến hãy nuôi dưỡng và canh tân đức tin để có thể chiếu sáng ơn gọi của mình.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong bài giảng thánh lễ lúc 5 giờ rưỡi chiều ngày 2-2-2013, lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh, cũng là Ngày đời sống thánh hiến, trước sự hiện diện của hàng ngàn tu sĩ nam nữ trong Đền thờ thánh Phêrô.

Ngày Đời sống thánh hiến được Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 cử hành lần đầu tiên hồi năm 1997, với mục đích chúc tụng Thiên Chúa về hồng ân đời sống thánh hiến, là điều vốn thuộc về sự thánh thiện của Giáo Hội, đồng thời ngày càng đề cao chứng tá cũng những người chọn theo Chúa Kitô qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, và đây cũng là cơ hội quí giá để mọi người thánh hiến lập lại quyết tâm đã và đang khích lệ họ hiến thân phụng sự Chúa.

Đây là lần đầu tiên từ 7 năm nay, ĐTC Biển Đức 16 cử hành thánh lễ nhân Ngày Đời Sống thánh hiến. Những năm vừa qua, ngài chỉ chủ sự Kinh Chiều nhân ngày này.

Đồng tế với ĐTC có ĐHY Tổng trưởng Bộ các dòng tu João Braz de Aviz, người Brazil, LM Sebastiano Paciolla, thuộc dòng Xitô, Phó tổng thư ký của Bộ, 4 Bề Trên Tổng quyền thành viên, và hàng chục các LM phục vụ tại Bộ.
Mở đầu buổi lễ có nghi thức làm phép nến do ĐTC chủ sự ở cuối Đền Thờ, rồi ngài cùng với đoàn đồng tế và 50 bề trên nam nữ, đại diện cho các hình thái khác nhau của đời sống Thánh Hiến, đi rước tiến lên Bàn thờ chính.

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng thánh lễ, sau khi quảng diễn ý nghĩa trình thuật Phúc Âm về việc dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, ĐTC nhắc đến cuộc rước nến sáng vào đầu thánh lễ với sự tham dự của các bề trên nam nữ. Ngài nói:

”Đề tài ánh sáng, vang vọng trong bài ca thứ I và thứ II của Người Tôi Tớ Chúa, trong II-Isaia (Xc 42,6; 49,6) hiện diện mạnh mẽ trong phụng vụ này. Thực vậy phụng vụ được mở đầu với cuộc rước đầy ý nghĩa mà các Bề trên nam nữ của các Hội dòng đời sống thánh hiến có mặt tại đây đã tham dự, tay cầm nến sáng. Dấu hiệu này, đặc biệt trong truyền thống phụng vụ của lễ hôm nay, biểu lộ vẻ đẹp và giá trị của đời thánh hiến như một phản chiếu ánh sáng của Chúa Kitô; một dấu hiệu gợi lại biến cố Mẹ Maria tiến vào Đền Thánh: Đức Trinh Nữ Maria, người Thánh Hiến tuyệt hảo, tay bồng chính Ánh Sáng là Ngôi Lời nhập thể, đến để xua tan bóng đêm ra khỏi trần thế bằng tình thương của Thiên Chúa”.

”Anh chị em thánh hiến thân mến, tất cả em chị em được diễn tả trong cuộc lữ hành tượng trưng, - trong Năm Đức Tin, cuộc lữ hành này càng diễn tả sự hợp nhau của anh chị em trong Giáo Hội, để được củng cố trong đức tin và canh tân sự dâng hiến của anh chị em cho Thiên Chúa. Tôi thân ái gửi đến mỗi người và hội dòng của anh chị em lời chào thăm thân ái nhất và cám ơn anh chị em vì sự hiện diện nơi đây. Trong ánh sáng của Chúa Kitô, với nhiều đoàn sủng khác nhau của đời chiêm niệm và tông đồ, anh chị em cộng tác vào cuộc sống và sứ mạng của Giáo Hội trong thế giới. Trong tinh thần biết ơn và hiệp thông ấy, tôi muốn gửi đến anh chị em ba lời mời gọi, để anh chị em có thể hoàn toàn tiến vào ”cánh cửa đức tin” luôn mở rộng cho chúng ta (Xc Tông thư ”Cánh cửa đức tin”, 1).

- Trước tiên tôi mời gọi anh chị em hãy nuôi dưỡng đức tin để có thể chiếu sáng ơn gọi của mình. Để được vậy, tôi nhắn nhủ anh chị em hãy làm một cuộc lữ hành nội tâm, nhớ lại ”mối tình đầu” qua đó Chúa Giêsu Kitô đã sưởi ấm tâm hồn anh chị em, không phải để hoài tưởng, nhưng để nuôi dưỡng ngọn lửa ấy. Vì thế cần phải ở với Chúa, trong sự thinh lặng thờ lạy, và nhờ đó khơi dậy ý muốn và niềm vui được chia sẻ cuộc sống, những chọn lựa, sự vâng phục đức tin, mối phúc của người thanh bần, tình yêu quyết liệt của Ngài. Luôn luôn tái khởi hành từ cuộc gặp gỡ yêu thương ấy, anh chị em từ bỏ mọi sự để ở với Chúa và như Chúa, anh chị em dấn thân phụng sự Thiên Chúa và anh chị em đồng loại (Xc Tông Huấn ”Đời sống thánh hiến”, 1).

- Thứ hai tôi mời gọi anh chị em hãy có một đức tin biết nhận ra sự khôn ngoan của yếu đuối. Trong những vui mừng và sầu muộn của thời nay, khi những cam go và sức nặng của thánh giá đè nặng, anh chị em đừng nghi ngờ về sự hạ cố (kenosis) của Chúa Kitô, vốn đã là một chiến thắng phục sinh. Chính trong giới hạn và yếu đuối của con người, chúng ta được mời gọi sống đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, hướng đến sự trọn hảo mai hậu, một sự trọn hảo được diễn tả trước phần nào ngay từ bây giờ (ibid., 16). Trong một xã hội luôn tìm kiến hiệu năng và thành công, cuộc sống của anh chị em, như của một ”số nhỏ”, của một nhóm người nhỏ bé yếu thế, cảm thông với những người không có tiếng nói, trở thành một dấu chỉ mâu thuẫn như Phúc âm đã nói.

- Sau cùng tôi mời gọi anh chị em hãy canh tân đức tin, làm cho anh chị trở thành những người lữ hành hướng về tương lai. Tự bản chất, đời sống thánh hiến là một cuộc lữ hành tinh thần, tìm kiếm một Tôn Nhan khi ẩn khi hiện: ”Faciam tuam, Domine, requiram” (Thánh nhan Ngài lạy Chúa, con tìm kiếm) (Tv 26,8). Ước gì điều này trở thành sự liên lỷ khao khát của tâm hồn, thành tiêu chuẩn cơ bản hướng dẫn hành trình của anh chị em, trong những bước tiến nhỏ của cuộc sống hàng ngày cũng như trong những quyết định quan trọng của Giáo Hội ngày nay. Anh chị em đừng hùa theo những tiên tri tai ương, những người loan báo sự cáo chung hoặc sự vô nghĩa của đời sống thánh hiến trong Giáo Hội ngày nay, trái lại, anh chị em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, mang lấy những võ khí của ánh sáng, như thánh Phaolô nhắn nhủ (Xc Rm 13,11-14), luôn tỉnh thức canh chừng”. Thánh Cromazio đi Aquileia đã viết: ”Xin Chúa đẩy xa khỏi chúng con nguy hiểm như thế để không bao giờ chúng con bị giấc ngủ bất trung đè nặng; nhưng xin ban ơn thánh và lòng từ bi cho chúng con, để chúng con có thể luôn tỉnh thức trong sự trung thành với Người. Thực vậy lòng trung thành của chúng ta có thể tỉnh thức trong Chúa Kitô” (Bài giảng 32,4).

”Anh chị em thân mến, niềm vui của đời thánh hiến nhất thiết tiến qua sự tham phần vào Thập Giá của Chúa Kitô. Mẹ Maria Chí Thánh đã từng trải qua như thế. Sự đau khổ của Mẹ là sự đau khổ của một con tim trở nên một với Con Tim của Con Thiên Chúa, bị đâm thâu qua vì yêu thương. Từ vết thương ấy, vọt ra ánh sáng của Thiên Chúa, và từ những đau khổ, hy sinh, hiến thân mình mà những người thánh hiến sống vì yêu Thiên Chúa và tha nhân chiếu tỏa cùng ánh sáng, loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Trong lễ này, tôi đặc biệt cầu chúc tất cả những người thánh hiến có một cuộc sống thấm đượm Tin Mừng chân chính, để ”nơi anh chị em Tin Mừng được sống thực, được làm chứng, loan báo và chiếu tỏa rạng ngời như Lời chân lý (Xc Porta fidei, 6). Amen”. (SD 2-2-2013)

G. Trần Đức Anh OP
-www.vietvatican.net

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

SUY NIỆM MÙNG 2 TẾT-KÍNH NHỚ TỔ TIÊN



Giáo hội dành ngày mùng hai tết để cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và cũng là để nhớ đến công ơn của các ngài. Giáo hội nhớ đến và cầu nguyện cho các ngài là bởi vì, tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những người có công sinh thành, dưỡng dục và xây dựng cuộc đời cho chúng ta. Các ngài tận tụy dậy dỗ mình sống đời sống làm người, và đặc biệt nhờ các ngài mà mình được biết Chúa và yêu mến Ngài. Công lao của các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ thật bao la trời biển.

"Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".

Quả thật, truyền thống cha ông chúng ta rất coi trọng chữ hiếu. Chính vì vậy mà để đánh giá tư cách của một người nào, các cụ ngày xưa thường dựa vào cách người đó đối xử với cha mẹ của mình như thế nào. Thậm chí, các cụ coi việc báo hiếu còn quan trọng hơn cả việc đi tu:

"Tu đâu cho bằng tu nhà,

thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu".

Và hơn nữa, đối với người kitô hữu, việc thảo kính cha mẹ không chỉ là một bổn phận tự nhiên, nhưng còn là một đòi hỏi của Thiên Chúa. Nhìn lại bản thập giới, ngay sau ba giới răn nói về bổn phận của con người đối với Thiên Chúa, thì giới răn "thảo kính cha mẹ" được đặt đầu tiên trong các giới răn nói về mối tương quan của con người với nhau.

Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô cũng nhắc: "Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo".

Và đặc biệt trong bài Tin mừng, Đức Giêsu nhắc lại với Pharisiêu, với kinh sư và với con người mọi thời rằng: "Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử". Rõ ràng, đối với Chúa Giêsu, việc hiếu thảo đối với cha mẹ là điều hết sức quan trọng và là bổn phận hàng đầu của mỗi người kitô hữu.

Như thế, việc thảo kính cha mẹ không còn tùy thuộc vào ý thích cá nhân, nhưng đó là thánh ý của Thiên Chúa, đó là lệnh truyền của Thiên Chúa, và đó là đòi buộc của Thiên Chúa.

Ngày đầu xuân Giáo hội nhắc lại sự đáp trả, báo ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên là việc làm rất ư cần thiết. Thế nhưng, ta phải có những thái độ nào, phải có những cách hành xử như thế nào, để đạo "thờ cha, kính mẹ" cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa? Đó có phải chỉ là cấp tiền nuôi dưỡng cha mẹ? Hay đó có phải chỉ là đến ngày, đến tháng vào xin một thánh lễ cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên là xong?

Trong sách xưa có một bài về đạo hiếu rất hay và cũng phù hợp với tinh thần Kitô giáo:

"Hiếu hữu tam:

Đại hiếu tôn thân

Kỳ thứ phất nhục

Kỳ thứ năng dưỡng"

Tạm dịch là:

Đạo hiếu có ba điều:

Hiếu lớn nhất là tôn vinh cha mẹ

Hai là không làm nhục cha mẹ mình

Ba là có thể nuôi dưỡng cha mẹ mình.

Vậy, thế nào là tôn vinh cha mẹ? Thế nào là không làm nhục cha mẹ? Và thế nào là dưỡng nuôi cha mẹ mình?

1. Tôn vinh cha mẹ trước mặt Thiên Chúa và con người

Theo quan niệm của Kitô giáo, thì sự tôn vinh cha mẹ ở cấp độ cao nhất đó là sự tôn vinh cha mẹ, làm rạng rỡ cha mẹ ở trước mặt Thiên Chúa. Niềm vinh dự lớn lao của cha mẹ đó là được tôn vinh trước mặt Thiên Chúa. Thành ra, người có hiếu lớn nhất đó là người sống ngay lành, làm điều tốt trước mặt Thiên Chúa: sống theo thánh ý Chúa, sống theo luật Chúa đó là tốt nhất. Do đó khi sống đạo tốt, đó là mình thể hiện cái hiếu lớn nhất đối với cha mẹ.

Mặt khác, tôn vinh cha mẹ không chỉ trước mặt Thiên Chúa mà còn là tôn vinh, làm rạng danh cha mẹ trước mặt người đời. Mình không thể nói là có hiếu với cha mẹ khi mà đời sống của mình bê bối đủ điều. Mình không thể nói là có hiếu nếu mình cứ sống một cuộc sống mua gian bán lận, một cuộc sống thiếu yêu thương bác ái đối với người khác, một cuộc sống muốn loại trừ những người khác. Do đó, cái hiếu đối với cha mẹ, đó còn là việc thể hiện một đời sống tốt trước mặt người đời. Bởi vì khi mình sống tốt trước mặt người đời là mình đang làm rạng danh, đang tôn vinh cha mẹ mình.

Hơn thế nữa, cái hiếu lớn nhất là tôn vinh cha mẹ, không chỉ là tôn vinh cha mẹ trước mặt Thiên Chúa và tôn vinh cha mẹ trước mặt người đời, nhưng còn là thể hiện cái hiếu qua việc tôn vinh cha mẹ trước mặt chính mình. Tôn vinh cha mẹ trước mặt chính mình đó là khi mình biết vâng lời cha mẹ, tôn kính cha mẹ. Do đó, mình không thể nói là có hiếu trong khi mình cứ luôn cãi lời cha mẹ, không biết tôn kính cha mẹ.

2. Cái hiếu thứ hai đó là không làm nhục cha mẹ

Trước hết chúng ta xét đến tương quan với Thiên Chúa, đó là đừng làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa. Nghĩa là, khi xa lánh tội lỗi, không làm điều xấu đó là mình thể hiện cái hiếu đối với cha mẹ. Chúng ta không thể là người có hiếu nếu cứ sống trong tình trạng lầm lạc, trong những đam mê, những thú vui tội lỗi. Khi chúng ta phạm tội đó là mình đang làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, và như thế thì không thể nói là mình đang sống trọn chữ hiếu với cha mẹ được. Và chúng ta không chỉ đừng làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa mà còn không làm nhục cha mẹ trước mặt người đời. Mình đừng để cho người đời vì mình mà chửi cha mẹ mình. Con cái đi làm điều bậy bạ để rồi cha mẹ phải lãnh lấy hậu quả, bị người đời coi thường, khi đó chúng ta không thể là người sống có hiếu được.

3. Và cái hiếu thứ ba đó là có thể nuôi dưỡng cha mẹ

Nuôi dưỡng hay chu cấp cho cha mẹ ở đây không chỉ là về những nhu cầu vật chất nhưng là còn về tinh thần.

Trước mặt Thiên Chúa, mình cầu nguyện cho cha mẹ đó là nuôi dưỡng cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống hay đã qua đời, lời cầu nguyện của chúng ta cho cha mẹ thể hiện lòng hiếu thảo đối với cha mẹ.

Trước mặt người đời, người có hiếu là người có thể phụng dưỡng cho cha mẹ về vật chất cũng như tinh thần, đem lại niềm vui, đem lại niềm hạnh phúc cho cha mẹ.

Như vậy, cái hiếu lớn nhất của mỗi người đó là tôn vinh cha mẹ, làm rạng danh cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, trước mặt người đời và trước mặt chính mình.

Cái hiếu thứ hai đó là không làm nhục cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, không làm nhục cha mẹ trước mặt người đời.

Cái hiếu thứ ba đó là nuôi dưỡng cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ trước mặt Thiên Chúa, trước mặt người đời.

Làm được như thế đó là mình sống trọn lòng hiếu thảo đối với cha mẹ như lòng Chúa mong muốn.

Lắng nghe lời Chúa trong ngày đầu năm này, ước gì mỗi người một lần nữa ý thức hơn về những hồng ân Thiên Chúa đã ban cho mình qua ông bà cha mẹ, để hết lòng tri ân và cảm tạ các ngài. Đồng thời, đây cũng là cơ hội thuận tiện để mình duyệt xét lại lòng thảo hiếu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc thảo kính này, không chỉ là dâng một ít quà hay một lời cầu chúc trong ngày đầu năm, nhưng lòng thảo hiếu này, cần được kéo dài trong suốt cuộc đời mỗi người.

Xin Chúa cho mỗi người có được lòng mến yêu, có được một tinh thần thảo hiếu, để chúng ta có thể luôn biết thể hiện lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà cha mẹ.

Nhận ra gương mặt Chúa Giêsu nơi người nghèo, yếu đuối và khổ đau

Nếu muốn trông thấy dung nhan Thiên Chúa, một dung nhan trao ban ý nghĩa, sự vững vàng và an bình cho con đường đời sống, chúng ta phải theo Chúa Kitô và hướng toàn cuộc sống tới việc gặp gỡ Người, yên mến Người và yêu mến tha nhân. Vì dưới ánh sáng của Đấng bị đóng đinh, tình yêu ấy khiến cho chúng ta nhận ra gương mặt của Chúa Giêsu nơi người nghèo, người yếu đuối và người đau khổ.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với 8.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hàng tuần hôm 16-1-2013 trong đại thính đường Phaolô VI.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý “Nơi Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa mạc khải dung nhan Người cho nhân loại”. Trong Hiến chế tín lý về mạc khải Dei Verbum, Công Đồng Chung Vatican II khẳng định rằng chân lý thâm sâu của toàn sự Mạc Khải về Thiên Chúa sáng ngời nơi “Đức Kitô là Đấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn sự Mạc Khải” (Dv 2). Thánh Kinh Cựu Ước kể rằng sau khi tạo dựng, mặc dù có tội tổ tông là sự ngạo mạn của con người muốn thay thế chỗ của Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa lại cống hiến cho con người khả thể có được tình bạn của Người, nhất là qua giao ước với Abraham và lộ trình của một dân tộc bé nhỏ là dân Israel, mà Người đã chọn, không phải với các tiêu chuẩn của quyền bính trần thế, mà chỉ đơn thuần vì tình yêu thương của Người. Việc lựa chọn ấy là một mầu nhiệm, và nó vén mở cho thấy kiểu Thiên Chúa kêu gọi một vài người làm cầu nối dẫn đưa các người khác đến với Người. Trong lịch sử dân Israel chúng ta có thể đi lại các chặng của một lộ trình dài, trong đó Thiên Chúa tự mạc khải và bước vào trong lịch sử với các lời nói và hành động. Và để làm việc này Thiên Chúa dùng các người trung gian như ông Môshê, các Ngôn sứ, các Thẩm phán, để thông truyền cho dân ý muốn của Người, nhắc lại cho họ biết đòi buộc trung thành với giao ước, và tỉnh táo chờ đợi việc thực hiện tràn đầy và vĩnh viễn các lời Thiên Chúa đã hứa.

Chúng ta đã chiêm ngắm chính việc thực hiện các lời hứa này trong lễ Giáng Sinh: sự Mạc Khải của Thiên Chúa đạt tột đỉnh và sự trọn vẹn của nó. Nơi Đức Giêsu thành Nadarét, Thiên Chúa viếng thăm dân Người, viếng thăm nhân loại trong một cách thế vượt mọi chờ mong: Người gửi Con Duy Nhất của Người xuống thế làm người. Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta gương mặt của Thiên Chúa. Trong bài ca dẫn nhập Phúc Âm thánh Gioan viết: “Thiên Chúa đã không ai trông thấy bao giờ: Con duy nhất là Thiên Chúa và ở trong lòng Chúa Cha, chính Người đã vén mở cho chúng ta” (Ga 1,18). Khi cuộc khổ nạn tới gần, Chúa Giêsu đối thoại với các môn đệ và nói với họ về Thiên Chúa Cha. Tông đồ Philiphê hỏi Người: “Thưa Thầy, xin Thầy chỉ Cha cho chúng con là đủ” (Ga 14,8). Philiphê rất cụ thể và thực tiễn, ông xin được trông thấy Chúa Cha, thấy gương mặt của Người. Câu trả lời của Đức Giêsu đưa chúng ta vào trung tâm đức tin Kitô học của Giáo Hội: “Ai đã thấy Thầy là đã thấy Cha” (Ga 14,9). Kiểu nói này gói ghém tổng hợp của sự mới mẻ của Tân Ước, sự mới mẻ xuất hiện trong Hang đá Bethlem: Người ta có thể trông thấy Thiên Chúa, Người đã biểu lộ dung nhan Người, Người hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô.

Trong toàn Thánh Kinh Cựu Ước có đề tài “tìm kiếm dung nhan Thiên Chúa”. Từ ”panim” - dung nhan được lập lại tới 400 lần, trong đó có 100 lần quy chiếu về Thiên Chúa. Nhưng Do thái giáo cấm các hình ảnh, vì không thể diễn tả Thiên Chúa được, như các dân tộc làm với việc thờ lậy các ngẫu tượng. Xem ra nó loại trừ hoàn toàn việc “trông thấy” khỏi phụng tự và lòng đạo đức. Như vậy thì đối với tín hữu Do thái đạo đức tìm nhan Thiên Chúa có nghĩa là gì, dù ý thức được rằng không thể có bất cứ hình ảnh nào của Người?

Câu hỏi này rất quan trọng, vì một đàng muốn nói rằng không thể giản lược Thiên Chúa vào một đồ vật, vào một hình ảnh đơn sơ, cũng không thể để cái gì vào chỗ của Thiên Chúa; tuy nhiên, đàng khác nó khẳng định rằng Người có một gương mặt, nghĩa là một ngôi thứ hai có thể bước vào trong tương quan, Người không khép kín trên Trời, và từ cao nhìn xuống nhân loại. Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:

Chắc chắn Thiên Chúa ở trên mọi sự, nhưng Người hướng mặt về chúng ta, lắng nghe, trông thấy, nói và kết ước với chúng ta, Người có khả năng yêu thương chúng ta. Lịch sử cứu rỗi là lịch sử của tương quan này của Thiên Chúa là Đấng tự mạc khải từ từ cho con người, là Đấng làm cho con người biết tôn nhan Người.

Chính trong ngày đầu năm mùng một tháng Giêng chúng ta đã lắng nghe trong phụng vụ lời chúc lành rất đẹp trên dân: “Nguyện Chúa chúc lành và gìn giữ anh em! Nguyện Chúa rạng ngời nét mặt nhìn anh em và dủ thương anh em! Nguyện Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!” (Ds 6,24-26).

Sự rạng ngời của dung nhan Thiên Chúa là suối nguồn sự sống, là điều cho phép trông thấy thực tại; ánh sáng gương mặt Người hướng dẫn cuộc sống. Trong Thánh Kinh Cựu Ước có một gương mặt gắn liền với đề tài “dung nhan Thiên Chúa”: đó là ông Môshê, người Thiên Chúa chọn để giải phóng dân Israel khỏi sự nô lệ Ai Cập, bằng cách ban cho dân Lề Luật của Giao ước và dẫn đưa họ vế Đất hứa. Chương 33 sách Xuất Hành nói rằng ông Môsê có tương quan chặt chẽ và tin cậy với Thiên Chúa: “Chúa nói với ông Môsê mặt giáp mặt, như người ta nói với một người bạn” (Xh 33,11). Chính nhờ sự tin tưởng ấy ông Môsê mới xin Thiên Chúa: “Xin cho con thấy vinh quang Ngài” và câu trả lời của Thiên Chúa thật rõ ràng: “Ta sẽ cho tất cả lòng lành của Ta đi qua trước mặt ngươi và Ta sẽ xưng danh Ta là Giavê trước mặt ngươi... Nhưng ngươi sẽ không thể trông thấy mặt Ta, bởi vì không ai có thể thấy Ta mà vẫn sống... Đây là chỗ gần Ta. Ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, nhưng tôn nhan Ta thì không được thấy” (Xh 33,18-33).

Như vậy, một đàng có sự đối thoại mặt giáp mặt như giữa bạn hữu, nhưng đàng khác có sự bất khả thể trông thấy Thiên Chúa là Đấng dấu ẩn, ở trong đời này. Việc trông thấy bị hạn chế. Sau cùng, chỉ có thể theo Thiên Chúa, bằng cách trông thấy lưng của Người.

Tuy nhiên, với sự Nhập Thể, xảy ra một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ. Việc tìm kiếm tôn nhan Thiên Chúa nhận được một khúc rẽ không thể tưởng tượng được, bởi vì bây giờ có thể trông thấy gương mặt ấy: đó là gương mặt của Đức Giêsu, của Con Thiên Chúa làm người. Nơi Người thành toàn con đường mặc khải của Thiên Chúa, đã bắt đầu với ơn gọi của tổ phụ Abraham. Người là sự trọn vẹn của việc mạc khải này, bởi vì là Con Thiên Chúa, đồng thời là “Đấng trung gian và sự toàn vẹn của Mạc Khải” (DV 2); nơi Người nội dung sự mạc khải và Đấng mạc khải trùng hợp với nhau. Đức Giêsu chỉ cho chúng ta thấy gương mặt của Thiên Chúa và làm cho chúng ta biết tên của Thiên Chúa. Trong lời nguyện Lễ Tiệc Ly Người thưa với Thiên Chúa Cha: “Con đã biểu lộ danh Cha cho họ... Con đã làm cho họ biết danh Cha” (Ga 17,6.26). Kiểu nói “danh Thiên Chúa” có nghĩa Thiên Chúa như Đấng hiện diện giữa loài người.

Thiên Chúa đã vén mở danh người cho ông Môsê gần bụi gai cháy, Người đã khiến cho mình có thể khẩn cầu, đã cho một dấu chỉ cụ thể về “sự hiện diện” của Người giữa loài người. Tất cả những điều này tìm được sự thành toàn và trọn vẹn nơi Đức Giêsu: Người khai mào một kiểu mới sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử, bởi vì ai thấy Người là thấy Chúa Cha, như Người nói với Philiphê (x. Ga 14,9). Thánh Bênađô khẳng định: Kitô giáo là tôn giáo của Lời Thiên Chúa”, nhưng khộng phải của “một lời nói viết ra và câm nín, mà là Ngôi Lời nhập thể và sống động” (Hom. super sissus est, IV, 11; PL 183,86B). Trong truyền thống giáo phụ và thời trung cổ người ta dùng một công thức đặc biệt để diễn tả thực tại này: Đức Giêsu là “Verbum abbreviatum”, là Lời ngắn gọn và nòng cốt của Thiên Chúa Cha, đã nói với chúng ta tất cả về Người.

Nơi Đức Giêsu, sự trung gian giữa Thiên Chúa và con người tìm được sự viên mãn của nó. Trong Thánh Kinh Cựu Ước có một loạt các hình ảnh giữ nhiệm vụ này, đặc biệt là ông Môsê, người giải phóng, vị hướng đạo, người “trung gian” của giao ước như Thánh Kinh Tân Ước định ngĩa (x. Gl 3,19; Cv 7,35; Ga 1,17). Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không chỉ đơn sơ là một trong các người trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, mà là ”Vị Trung Gian” của Giao ước mới và vĩnh cửu (x. Dt 8,6.9.15; 12,24). Thật thế, thánh Phaolô khẳng định: chỉ có một Thiên Chúa, một vị trung gian giữa Thiên Chúa và loài người đó là Con Người Giêsu Kitô” (1 Tm 2,5; x. Gl 3,19-20). Nơi Người chúng ta trông thấy và gặp gỡ Thiên Chúa Cha; nơi Người chúng ta có thể khẩn cầu Thiên Chúa với tên gọi “Abba, Cha ơi”; nơi Người ơn cứu độ được ban cho chúng ta.

Và Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau: Nếu chúng ta muốn trông thấy gương mặt của Thiên Chúa, gương mặt trao ban ý nghĩa, sự vững vàng, niềm an bình cho con đường của chúng ta, chúng ta phải theo Chúa Kitô, không phải chỉ khi cần đến chúng hay khi chúng ta tìm ra được một khoảng thời gian giữa muôn ngàn bận rộn thường ngày. Nhưng toàn cuộc sống phải hướng về việc gặp gỡ Người, về tình yêu đối với Người và trong đó cả tình yêu đối với tha nhân cũng phải có một chỗ trung tâm, tình yêu mà dưới ánh sáng của Đấng chịu đóng đanh, làm cho chúng ta nhận biết gương mặt của Chúa Giêsu nơi người nghèo, người yếu đuối, người đau khổ.

Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau và chúc họ những ngày hành hương sốt sắng bổ ích. Sau cùng ngài cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Trong Đền Thánh, LK


BÀI ĐỌC I: Ml 3, 1-4

"Đấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, đến trong đền thánh Người".

Trích sách Tiên tri Malakhi.

Này đây Chúa là Thiên Chúa phán: "Đây Ta sai thiên thần Ta đi dọn đường trước mặt Ta!" Lập tức Đấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm, và thiên thần giao ước mà các ngươi mong ước, đến trong đền thánh Người. Chúa các đạo binh phán: "Này đây Người đến". Ai có thể suy tưởng đến ngày Người đến, và có thể đứng vững để trông nhìn Người? Vì Người sẽ như lửa thiêu đốt, như thuốc giặt của thợ giặt. Người sẽ ngồi như thợ đúc và thợ lọc bạc, Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi, và làm cho chúng nên sạch như vàng bạc. Chúng sẽ hiến dâng lễ tế cho Chúa trong công bình. Lễ tế của Giuđa và Giêrusalem sẽ đẹp lòng Chúa, như ngày xưa và như những năm trước. Đó là lời Chúa toàn năng phán. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 23, 7. 8. 9. 10

Đáp: Vua hiển vinh là ai vậy? (c. 8a)

Xướng: 1) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên; vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu! để Vua hiển vinh Người ngự qua. - Đáp.

2) Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Đó là Chúa dũng lực hùng anh, đó là Chúa anh hùng của chiến chinh. - Đáp.

3) Các cửa ơi, hãy ngẩng đầu lên, vươn mình lên, hỡi cửa ngàn thu, để vua hiển vinh Người ngự qua. - Đáp.

4) Nhưng Vua hiển vinh là ai vậy? Đó là Chúa đạo thiên binh, chính Người là Hoàng Đế hiển vinh. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Dt 2, 14-18

"Người phải nên giống anh em Mình mọi đàng".

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Vì các con trẻ cùng chung thân phận máu thịt, chính Chúa Giêsu cũng giống như chúng, cũng thông phần điều đó, để nhờ cái chết của Người mà Người huỷ diệt kẻ thống trị sự chết là ma quỷ, và để giải thoát tất cả những kẻ sợ chết mà làm nô lệ suốt đời. Vì chưng Người không đến cứu giúp các thiên thần, nhưng đến cứu giúp con cái Abraham. Bởi thế, Người nên giống anh em Mình mọi đàng, ngõ hầu trong khi phụng sự Chúa, Người trở thành đại giáo trưởng nhân lành và trung tín với Chúa, để đền tội cho dân. Quả thật, bởi chính Người đã chịu khổ hình và chịu thử thách, nên Người có thể cứu giúp những ai sống trong thử thách. Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: Lc 2,32

Alleluia, alleluia! - Ánh sang đã chiếu soi muôn dân, và là vinh quang của Israel dân Chúa. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 2, 22-32 {hoặc 22-40}

"Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, đủ ngày thanh tẩy theo luật Môsê, cha mẹ Chúa Giêsu liền đem Người lên Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa". Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, như có nói trong Luật Chúa, là một đôi chim gáy, hay một cặp bồ câu con.

Và đây ở Giêrusalem, có một người tên là Simêon, là người công chính, kính sợ Thiên Chúa, và đang đợi chờ niềm ủi an của Israel. Thánh Thần cũng ở trong ông. Ông đã được Thánh Thần trả lời rằng: Ông sẽ không chết, trước khi thấy Đấng Kitô của Chúa. Được Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ ngay lúc cha mẹ trẻ Giêsu đưa Người đến để thi hành cho Người những tục lệ của Lề luật. Ông bồng Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

"Lạy Chúa, giờ đây, Chúa để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Chúa đã phán: vì chính mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là Ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa".

{Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà và nói với Maria mẹ Người rằng: "Đây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ!"

Lúc ấy, cũng có bà tiên tri Anna, con ông Phanuel, thuộc chi họ Asê, đã cao niên. Mãn thời trinh nữ, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi thủ tiết cho đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời khỏi đền thờ, đêm ngày ăn chay cầu nguyện phụng sự Chúa. Chính giờ ấy, bà cũng đến, bà liền chúc tụng Chúa, và nói về trẻ Giêsu cho tất cả những người đang trông chờ ơn cứu chuộc Israel.

Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo Luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.}
Đó là lời Chúa.

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Thư mục vụ Mùa Chay 2013 Category: Giáo Hội Việt Nam



BY: + ĐHY GIOAN B. PHẠM MINH MẪN 


THƯ MÙA CHAY 2013

Kính gửi : Quý Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân,
trong gia đình Giáo phận
Anh Chị Em rất thân mến,

1. Như anh chị em biết, Hội nghị toàn thể lần X của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã diễn ra rất tốt đẹp. Các giám mục đã họp tại Tòa giám mục Xuân Lộc từ ngày 10 -15 tháng 12 năm 2012. Sau đó, các ngài chia ra thành nhiều nhóm, đi thăm Đại chủng viện Thánh Giuse và 14 giáo hạt trong Tổng giáo phận Thành phố, và cử hành Thánh Lễ bế mạc tại Nhà thờ chính tòa Sàigòn.

Các giám mục Á châu đã có những ấn tượng thật tốt đẹp về đất nước, con người, nhất là về Giáo Hội công giáo Việt Nam. Các ngài ca ngợi đời sống đức tin kiên trung và sống động của người tín hữu Việt Nam, và cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu của anh chị em. Được như thế là nhờ ơn Chúa, cùng với sự đóng góp tích cực và đầy tình huynh đệ hiệp nhất của mọi thành phần Dân Chúa trong gia đình giáo phận. Tôi hết sức vui mừng và xin gửi đến tất cả anh chị em lời cảm ơn chân thành nhất.

2. Cùng với niềm vui khi thấy Giáo Hội Việt Nam phát triển, các giám mục Á châu cũng khuyên chúng ta phải đào sâu và củng cố đức tin hơn nữa, để có thể vững vàng trước những cám dỗ của lối sống văn hóa thế tục đang lan rộng khắp nơi tại châu Á. Đây chính là điều cần phải quan tâm đặc biệt trong Năm Đức Tin, nhất là trong Mùa Chay.

Mùa Chay là thời gian củng cố đức tin vào mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm thập giá và sự sống lại của Chúa Kitô. Mầu nhiệm ấy là trung tâm của Tin Mừng mà các thánh Tông đồ và toàn thể Giáo Hội phải loan báo cho trần gian. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất “một lần cho mãi mãi” (Dt 9,25) nhờ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người.

3. Vì thế, trong Mùa Chay này, dựa vào Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo và những tài liệu đã được Tòa Tổng giám mục gửi đến các giáo xứ, xin anh chị em cố gắng học hỏi, tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô. Càng hiểu biết, chúng ta càng yêu mến Đức Kitô và mong muốn bước theo Người sát hơn. Do đó, Mùa Chay cũng là thời gian sám hối và canh tân đổi mới đời sống. Ngay từ đầu Mùa Chay, Giáo Hội đã kêu gọi các tín hữu ăn chay, cầu nguyện, làm việc bác ái. Tất cả đều nhằm mục đích giúp chúng ta canh tân đổi mới, để nên giống Chúa Giêsu hơn trong tâm tình, trong suy nghĩ, cũng như trong lời nói và cách sống hằng ngày, như thánh Phaolô kêu gọi : “Hãy mang trong anh em những tâm tình của Đức Giêsu Kitô” (Phil 2,5).

4. Nếu chúng ta thật sự yêu mến Đức Kitô thì cũng sẽ yêu mến Giáo Hội vì Giáo Hội chính là Thân Mình của Chúa. Lòng yêu mến Giáo Hội dẫn chúng ta đến chỗ đồng cảm với những ưu sầu và lo lắng, cũng như mừng vui và hi vọng của Giáo Hội. Cách riêng trong Giáo Hội địa phương là giáo phận nhà, tôi muốn nhắc anh chị em nhớ đến sự kiện quan trọng này : chúng ta sẽ mừng kỷ niệm 150 năm thành lập chủng viện Thánh Giuse-Sàigòn, bắt đầu từ ngày lễ Thánh Giuse, 19 tháng 3 năm 2013, và kết thúc trọng thể vào ngày 19 tháng 3 năm 2014.

Chủng viện Thánh Giuse được thành lập từ năm 1863 để đáp ứng nhu cầu đào tạo linh mục cho các giáo phận miền Nam Việt Nam. Trong 150 năm qua, chủng viện đã đào tạo 1.402 linh mục. Trung bình 10LM/năm, trong số đó, có một hồng y và 30 giám mục. Nhắc lại thành quả đó để thấy sự đóng góp lớn lao của chủng viện cho đời sống và sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội tại Việt Nam nói chung, và tại Tổng giáo phận Sàigòn trong Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Sau 150 năm, chủng viện vẫn tiếp tục sứ mạng cao cả của mình và nhu cầu còn gia tăng hơn trước. Hiện nay, chủng viện Thánh Giuse-Sàigòn không chỉ đào tạo linh mục cho Sàigòn mà còn cho hai giáo phận Mỹ Tho và Phú Cường. Trước đây, chủng viện chỉ chiêu sinh 2 năm 1 lần, nhưng từ ít năm nay đã tổ chức chiêu sinh hằng năm, do đó số chủng sinh tăng gấp đôi. Thêm vào đó, theo yêu cầu của Tòa Thánh, chủng viện phải mở thêm Năm Tu Đức cho chủng sinh trước khi chính thức bước vào chương trình Triết học và Thần học. Vì thế, đến niên khóa 2014-2015, dự kiến số chủng sinh sẽ là 280 thầy cho chương trình đào tạo 7 năm.

5. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, giáo phận bắt buộc phải sửa chữa những khu nhà cũ đã được sử dụng từ 50 – 80 năm; đồng thời xây dựng khu nhà mới làm nơi cho chủng sinh ở, học tập, cầu nguyện. Chủng viện đã tiến hành việc xây dựng này từ tháng 3 năm 2012 và cho đến nay, nhờ sự giúp đỡ quảng đại của anh chị em, đã hoàn thành được một nửa công trình. Tôi xin hết lòng cảm ơn anh chị em đã rộng lòng giúp đỡ cho công việc đào tạo linh mục, là đòi hỏi hết sức quan trọng trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Và tôi ước mong anh chị em tiếp tục giúp đỡ cho công trình xây dựng này sớm được hoàn thành.

Cách cụ thể, trong Mùa Chay này, xin anh chị em tiết giảm chi tiêu cho bản thân và gia đình mình, và dành phần tiết kiệm ấy cho chủng viện. Nếu bình quân mỗi người trong giáo phận có thể góp 50.000 (năm mươi ngàn đồng) trong Mùa Chay này, hy vọng chúng ta sẽ hoàn tất công trình đúng như dự kiến, và chủng viện có thể đón nhận 280 chủng sinh cho niên khóa sắp tới.

Kết luận

Đức Trinh Nữ Maria vừa là Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, vừa là môn đệ đầu tiên và mẫu mực của Người. Mẹ đã đồng hành với Chúa từ khi sinh con trong cánh đồng Bêlem đến lúc đứng dưới chân thập giá trên đồi Canvê. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ và Thánh Cả Giuse, nguyện xin Chúa ban tràn đầy Thánh Thần của Ngài xuống trên mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn, giúp mọi người sống đời sống môn đệ Chúa Giêsu như lòng Người mong ước.

Thứ Tư Lễ Tro, đầu Mùa Chay Th
ánh

Đức Thánh Cha ban ơn toàn xá nhân Ngày Thế Giới các bệnh nhân Category: Giáo Hội Hoàn Vũ




VATICAN. Nhân dịp Ngày thế giới các bệnh nhân lần thứ 21 sắp tới, ĐTC ban ơn toàn xá cho các bệnh nhân và những người chăm sóc và cầu nguyện cho họ.
Ân xá là sự tha thứ hình phạt tạm thời mà một người phải chịu để đền bù những tội đã được tha thứ.
Trong Sắc lệnh công bố hôm 28-1-2013, ĐHY Monteiro de Castro, Chánh Tòa Ân Giải tối cao, và Đức Ông Krzyssztof Nykiel, Phó Chánh Tòa, cho biết ĐTC Biển Đức 16 ban ơn toàn xá để ”Các tín hữu, thành tâm thống hối và do đức bác ái cũng như tấm gương người Samaritano nhân lành thúc đẩy, trong tinh thần đức tin và từ bi, dấn thân phục vụ những anh chị em đang chịu đau khổ”. Ngài đã quyết định rằng:

- Các tín hữu, với lòng thống hối chân thành, có thể được hưởng ơn toàn xá mỗi ngày một lần, với những điều kiện thường lệ là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý ĐTC, và có thể chỉ ơn này cho các linh hồn quá cố, nếu trong những ngày từ mùng 7 đến 11-2 tới đây, tại Đền thánh Đức Mẹ Altoetting bên Đức, hoặc tại bất kỳ nơi nào do Giáo quyền chỉ định, họ sốt sắng tham gia một buổi lễ được cử hành để cầu xin Chúa cho những ý chỉ của Ngày Thế Giới các bệnh nhân, và họ đọc Kinh Lạy Chúa, kinh Tin Kính và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria.

- Các tín hữu làm việc tại các nhà thương công cộng hoặc tại bất kỳ nhà tư nào, trợ giúp các bệnh nhận theo tinh thần bác ái như người Samaritano nhân lành, và vì công việc phục vụ ấy, họ không thể tham gia cac buổi lễ nói trên, thì họ cũng được hưởng ơn toàn xá, nếu trong những ngày ấy, họ quảng đại trợ giúp trong vài giờ như thể làm cho chính Chúa Kitô (Xc Mt 25,40) và họ đọc Kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính, khẩn cầu Đức Mẹ, với tinh thần xha tránh mọi tội lỗi, và với ý hướng chu toàn vừa khi có thể các điều kiện được yêu cầu để hưởng ơn toàn xá.

- Những tín hữu vì bệnh tật, già yếu hoặc vì lý do khác tương tự, bị ngăn trở không thể tham dự các lễ nghi nói trên, cũng sẽ được ơn toàn xá, miễn là với tâm hồn xa tránh bất kỳ tội lỗi nào và quyết tâm chu toàn vừa khi có thể những điều kiện thường lệ, tham dự trong tinh thần các buổi lễ thánh trong những ngày đã định, đặc biệt là trong các buổi lễ phụng vụ và Sứ điệp của ĐTC được truyền đi qua truyền hình hoặc đài phát thanh, sốt sắng cầu nguyện cho tất cả các bệnh nhân, và dâng những đau khổ thể lý và tinh thần, nhờ Mẹ Maria là Sức khỏe của các bệnh nhân.

Sau cùng, ĐTC ban ơn xá bán phần cho tất cả các tín hữu, mỗi khi họ hướng về Thiên Chúa từ bi, với tâm hồn thống hối, trong những ngày từ 7 đến 11-2 nói trên, sốt sắng cầu nguyện trợ giúp những người đau yếu trong tinh thần của Năm Đức Tin hiện nay.

Ngày 11-2-2013, lễ Đức Mẹ Lộ Đức, Đức TGM Zygmunt Zimowski Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ các nhân viên y tế, Đặc Sứ của ĐTC, sẽ chủ sự thánh lễ trọng thể tại Đền thánh Đức Mẹ Altoetting, nam Đức, và cuối lễ, ngài sẽ ban bí tích xức dầu bệnh nhân.

Altoetting, cách thành phố Munich 100 cây số về hướng đông, là nơi có Đền thánh Đức Mẹ nổi tiếng nhất nước Đức và thuộc giáo phận Passau. Thị trấn Altoetting, tuy chỉ có 13 ngàn dân cư, nhưng vẫn được coi là ”Con tim tôn giáo của miền Bavière”. Mỗi năm có hơn 1 triệu tín hữu từ các nơi ở Đức và các nước Trung Âu, đến hành hương trước tượng Đức Mẹ Đen cao 65 centimet, bồng Chúa hài đồng, được đặt trong Nhà Nguyện Ân Phúc của Đền Thánh này. Pho tượng bằng gỗ, bị ám khói nến qua dòng thời gian. Nhà nguyện này có từ khoảng năm 1300, nhưng trở nên nổi tiếng từ năm 1489, với hai cuộc hiện ra của Đức Mẹ. Trong nhà nguyện có rất nhiều bảng tạ ơn Đức Mẹ. Trước tượng Đức Mẹ, có một hòm bằng bạc đựng trái tim của tất cả các vua miền Bavière và các nhân vật nổi bật khác thuộc gia tộc Wittelsbach.

Riêng đối với ĐTC Biển Đức 16, Đền thánh này đã giữ một vai trò quan trọng trong các kỷ niệm thời thơ ấu. Ngài kể: ”Tôi được may mắn sinh ra gần Altoetting. Và các cuộc hành hương của tôi với thân nhân tại đây thuộc vào những kỷ niệm đẹp nhất của tôi trong thời thơ ấu”... Hồi tháng giêng năm 2005, tức là 3 tháng trước khi được bầu làm Giáo Hoàng, ĐHY Ratzinger cùng với bào huynh của ngài đã đến hành hương riêng cũng tại Đền thánh Đức Mẹ Altoetting”. (SD 28-1-2013)

G. Trần Đức Anh OP

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Sống Ngày "Hôm Nay" Trong Chúa

VATICAN. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu trưa Chúa nhật 27-01-2013, ĐTC mời gọi các tín hữu hãy đón nhận Ơn cứu độ và sự hiện diện của Thiên Chúa trong ngày sống của mình bằng cách lắng nghe lời của Ngài.
Trong một ngày nắng đẹp, hàng chục ngàn tín hữu hành hương quần tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô để nghe lời giáo huấn của Đức Thánh Cha. Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ngài đã giải thích ý nghĩa của đoạn Tin Mừng theo Thánh Luca(Lc 1,1-4; 4,14-21) và nhắn nhủ các tín hữu hãy sống ngày hôm nay như là ngày hồng ân cứu độ. Giải thích về ý nghĩa của đoạn Tin Mừng, Đức Thánh Cha nói rằng:

Phụng vụ hôm nay trình bày cho chúng ta hai đoạn trích khác nhau trong Tin Mừng theo thánh Luca. Đoạn thứ nhất là lời tựa, là một lời nhắn nhủ tới một con người cụ thể có tên là “Thêôphilô”; vì tên này trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là Yêu mến Thiên Chúa, nên chúng ta có thể nhận ra nơi ông hình ảnh của những người tín hữu biết mở ra với Thiên Chúa và khao khao hiểu biết về Tin Mừng. Trong khi đó, đoạn thứ hai trình bày cho chúng ta sự kiện Đức Giê-su, “được quyền năng Thần Khí thúc đẩy”, đi vào hội đường Na-da-rét. Nhìn kỹ ta thấy rằng Thiên Chúa đã không xem thường những nghi lễ phụng vụ hàng tuần và Ngài vẫn thường quây quần bên những người đồng hương để cầu nguyện và lắng nghe Kinh Thánh. Nghi thức này bao gồm việc đọc một đoạn văn trong Kinh Torah hay Ngôn sứ và sau đó là một vài diễn giải. Vào ngày này, Đức Giê-su đã đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng: “Thần khí của Ðức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân,
công bố một năm hồng ân của Ðức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta; Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than” (Is 61, 1-2). Origen diễn giải rằng: “Không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi Ngài mở sách và tìm thấy đoạn ngôn sứ Isaia nói về Ngài, nhưng đây chính là hành động quan phòng của Thiên Chúa”. Sau khi đọc xong đoạn Sách Thánh, Đức Giê-su đã thinh lặng, rồi Ngài nói: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,21). Thánh Cirillo Alessandria xác nhận rằng, “hôm nay” được đặt giữa lần đến đầu tiên và cuối cùng của Đức Giê-su, được nối kết với khả năng của người tín hữu trong việc lắng nghe và hoán cải. Nhưng trong ý nghĩa cụ thể hơn, Đức Giê-su chính là “hôm nay” trong lịch sử cứu độ, bởi vì ng”ài đã đến và hoàn tất công trình cứu độ. Thuật ngữ “hôm nay” có ý nghĩa rất phong phú trong Tin Mừng thánh Luca, nó gợi nhắc cho chúng ta chủ đề Kitô học rất được ưa thích bởi Thánh sử Luca. Trong tường thuật về việc sinh hạ, chủ đề này đã được trình bày trong lời của các Thiên Thần: “Hôm nay, một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa” (Lc 2,11).
Sau khi diễn giải bài Tin Mừng, Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tín hữu phải sống cụ thể ngày “hôm nay” trong đời sống thường ngày. Ngài nói:

Anh chị em thân mến,
Đoạn Tin Mừng này đòi chúng ta phải chất vấn về chính ngày “hôm nay” của chúng ta. Trên hết chúng ta phải nghĩ về cách chúng ta sống ngày Chúa Nhật: ngày để nghỉ ngơi, ngày của gia đình, và trên hết là ngày dành cho Chúa, bằng cách tham dự Thánh Lễ, nơi đó chúng ta được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Thánh Chúa Kitô và Lời sự sống của Ngài. Thứ đến, trong thời đại đầy xáo trộn và đổi thay này, bài Tin Mừng hôm nay cũng mời gọi chúng ta chất vấn chính mình về khả năng lắng nghe của chúng ta. Trước khi có thể nói về Thiên Chúa và nói với Thiên Chúa, chúng ta cần lắng nghe Ngài, và phụng vụ của Giáo Hội chính là “trường học” lắng nghe Thiên Chúa, Đấng luôn nói với chúng ta. Cuối cùng, bài Tin Mừng cũng nói cho chúng ta rằng mọi khoảnh khắc đều có thể trở thành hôm nay để chúng ta có thể hoán cải. Mỗi ngày có thể trở thành ngày cứu độ, bởi vì ơn cứu độ là một lịch sử được tiếp nối bởi Giáo Hội và bởi mỗi một người môn đệ của Đức Giê-su. Đây chính là ý nghĩa Kitô giáo của thuật ngữ “Hãy sống với ngày hôm nay" (carpe diem), hãy nắm bắt khoảnh khắc Thiên Chúa kêu gọi bạn để trao ban ơn cứu độ.
Đức Trinh Nữ Maria chính là mẫu gương cho chúng ta và là Đấng hướng dẫn chúng ta trong việc mở ra để đón nhận mỗi ngày trong đời sống chúng ta sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng cứu độ của chúng ta và của tất cả nhân loại.

Tiếp đến Đức Thánh Cha nhắn nhủ một cách đặc biệt vì hôm nay cũng là ngày tưởng niệm các nạn nhân của thảm họa diệt chủng Phát-xít. Ngài nói:
Hôm nay cũng là “Ngày tưởng niệm” những nạn nhân của Holocaust của Phátxít. Việc kỷ niệm thảm họa kinh hoàng này phải là một lời nhắc nhở dành cho mọi người rằng, chúng ta không nên lặp lại những lỗi lầm trong quá khứ. Và chúng ta phải nỗ lực để vượt qua mọi thái độ ghen ghét và các hình thức phân biệt chủng tộc, đồng thời phải thăng tiến và tôn trọng phẩm giá con người.

Sau Angelus, Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng hôm nay cũng là ngày Thế Giới bệnh nhân. Ngài nhắn nhủ tới mọi người như sau:
Tôi muốn diễn tả sự gần gữi của tôi tới những người phải chịu đau khổ vì bệnh tật, những nhà nghiên cứu đầy can đảm, các nhà thiện nguyện, những người hoạt động trong lĩnh vực y tế và cụ thể là biết bao nhiêu người đang tham gia vào các tổ chức Công giáo và Tổ chức những người bạn của Raoul Follereau. Tôi cũng nguyện xin Thánh Damien de Veuster và thánh Marianna Cope, những người đã hiến trao đời mình cho những người phải chịu đau khổ vì bệnh phong, xin các ngài cầu bầu cho tất cả các bạn.
Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng, Chúa nhật hôm nay là ngày đặc biệt cầu nguyện cho hòa bình trên Đất Thánh. Và Ngài cảm ơn tất cả những ai đang nỗ lực để thăng tiếng hòa bình trên mọi miền của thế giới và ngài đặc biệt chúc mừng những người hiên diện nơi đây. Sau đó, Ngài cũng chào mừng khách hành hương bằng các thứ tiếng khác nhau: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, Phần Lan và Tây Ban Nha. Và cuối cùng, Đức Thánh Cha ban phép lành tòa thánh cho toàn thể mọi người hiện diện.


Nguyễn Minh Triệu sj