http://dmhung52.blogspot.com/2013/12/em-dien-nguyen-giang-sinh-2013-tai-giao.html
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Vọng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Vọng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013
GX Tân Việt Diễn nguyện Giáng sinh 2013
http://dmhung52.blogspot.com/2013/12/em-dien-nguyen-giang-sinh-2013-tai-giao.html
Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013
Ngày 17 tháng 12 Mùa Vọng
BÀI ĐỌC I: St 49, 2. 8-10
"Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa".
Bài trích sách Sáng Thế.
Ngày ấy, Giacóp triệu tập con cái lại và nói rằng: "Hỡi con cái Giacóp, hãy hợp lại và nghe cha đây. Hỡi nhà Israel, hãy nghe lời cha của các con. Giuđa, anh em con sẽ ca tụng con. Bàn tay con sẽ đè trên ót quân thù; con cái của cha con sẽ phục lạy con. Giuđa là sư tử con, hỡi con của cha, con đã chồm lên bắt mồi, con đã nằm xuống nghỉ ngơi, như giống sư tử đực, tựa nòi sư tử cái, ai dám khiêu khích nó? Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa, gậy chỉ huy không rời khỏi chân nó, cho đến lúc Đấng thiên sai ngự đến, là Đấng chư dân đợi trông". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 71, 2. 3-4ab. 7-8. 17
Đáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người tới muôn đời (x. c. 7).
Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. - Đáp.
2) Núi non đem an hoà cho dân, và nổng đồi mang lại đức công chính. Người bênh chữa kẻ hèn trong dân, và cứu thoát con cái nhóm nghèo. - Đáp.
3) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. - Đáp.
4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người. - Đáp.
ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! - Lạy Đức Thượng Trí của Đấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự cách mạnh mẽ và dịu dàng, xin hãy đến dạy dỗ chúng con con đường khôn ngoan. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 1, 1-17
"Gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Đavít".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Đavít, con của Abraham. Abraham sinh Isaac; Isaac sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuđa và các anh em người. Giuđa sinh Phares và Zara ?bởi bà Thamar; Phares sinh Esrom; Esrom sinh Aram; Aram sinh Aminadab; Aminadab sinh Naasson; Naasson sinh Salmon; Salmon sinh Booz do bà Rahab; Booz sinh Giobed do bà Rút. Giobed sinh Giêsê; Giêsê sinh vua Đavít.
Đavít sinh Salomon do bà vợ của Uria; Salomon sinh Robo-am; Roboam sinh Abia; Abia sinh Asa; Asa sinh Giosaphát; Giosaphát sinh Gioram; Gioram sinh Ozia; Ozia sinh Gioatham; Gioatham sinh Achaz; Achaz sinh Ezekia; Ezekia sinh Manas-se; Manasse sinh Amos; Amos sinh Giosia; Giosia sinh Giêconia và các em trong thời lưu đày ở Babylon.
Sau thời lưu đày ở Babylon, Giêconia sinh Salathiel; Sala-thiel sinh Zorababel; Zorababel sinh Abiud; Abiud sinh Eliakim; Eliakim sinh Azor; Azor sinh Sađoc; Sađoc sinh Akim; Akim sinh Eliud; Eliud sinh Eleazar; Eleazar sinh Mathan; Mathan sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuse, là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Đức Kitô.
Vậy, từ Abraham đến Đavít có tất cả mười bốn đời, từ Đavít đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời. Đó là lời Chúa.
Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013
Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013
Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013
Lớp PR và Đồ Họa
Pr và bài kiểm tra
1. Mục vụ PR có vai trò quan trọng thế nào đối với Thánh viên MVTT?
2. Có thể dùng Đồ họa để làm PR cho Chúa như thế nào?
- Mục vụ PR có vai trò rất quan trọng đối với MVTT ,là làm PR cho Giáo xứ bằng cách tạo hình ảnh đẹp giữa Giáo xứ,Cha xứ,Hội đồng MV cho mọi người biết về giáo xứ,cha xứ mình ,thành viên MVTT giáo xứ phải thường xuyên đưa Lời Chúa ,hình ảnh đẹp, video, giới thiệu trên các Trang mạng xạ hội,trên Trang Web giáo xứ,đưa thông tin về sinh hoạt giáo xứ,các Đoàn thể,ca đoàn..
-Dùng đồ họa làm PR cho Chúa đối thành viên MVTT là tạo những Logo,banner,thiết kế thiệp,sử lý hình ảnh cho giáo xứ,sau đó đưa lên Trang Titoco giáo xứ hay Blogs cá nhân của mình.
1. Mục vụ PR có vai trò quan trọng thế nào đối với Thánh viên MVTT?
2. Có thể dùng Đồ họa để làm PR cho Chúa như thế nào?
- Mục vụ PR có vai trò rất quan trọng đối với MVTT ,là làm PR cho Giáo xứ bằng cách tạo hình ảnh đẹp giữa Giáo xứ,Cha xứ,Hội đồng MV cho mọi người biết về giáo xứ,cha xứ mình ,thành viên MVTT giáo xứ phải thường xuyên đưa Lời Chúa ,hình ảnh đẹp, video, giới thiệu trên các Trang mạng xạ hội,trên Trang Web giáo xứ,đưa thông tin về sinh hoạt giáo xứ,các Đoàn thể,ca đoàn..
-Dùng đồ họa làm PR cho Chúa đối thành viên MVTT là tạo những Logo,banner,thiết kế thiệp,sử lý hình ảnh cho giáo xứ,sau đó đưa lên Trang Titoco giáo xứ hay Blogs cá nhân của mình.
Nhãn:
Bài tập lớp học,
giadinhthanhtam,
Mùa Vọng
Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013
Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013
Chúa Nhật Tuần II Mùa Vọng Năm A
BÀI ĐỌC I: Is 11, 1-10
"Chúa lấy sự công minh mà xét xử người nghèo khó".
ĐÁP CA: Tv 71, 2. 7-8. 12-13. 17
Đáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người (c. 7).
Đáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người (c. 7).
BÀI ĐỌC II: Rm 15, 4-9
"Chúa Kitô cứu rỗi hết mọi người".
ALLELUIA: Lc 3, 4. 6
Alleluia, alleluia! - Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng; và mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 3, 1-12
"Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng: "Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến". Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: "Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng".
Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Bấy giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan.
Thấy có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì Gioan bảo rằng: "Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. Chớ tự phụ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Đây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối; còn Đấng sẽ đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người. Chính Đấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt". Đó là lời Chúa.
"Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Gioan Tẩy Giả đến giảng trong hoang địa xứ Giuđêa rằng: "Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến". Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: "Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng".
Bởi vì chính Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Bấy giờ dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan.
Thấy có một số đông người biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thì Gioan bảo rằng: "Hỡi nòi rắn độc, ai bảo các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. Chớ tự phụ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Đây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, để các ngươi được lòng sám hối; còn Đấng sẽ đến sau tôi có quyền năng hơn tôi và tôi không đáng xách giày Người. Chính Đấng ấy sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Ngài cầm nia trong tay mà sảy lúa của Ngài, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt". Đó là lời Chúa.
Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013
Thiệp Giáng Sinh 2013
Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013
Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012
Lễ Giáng sinh, nguồn hy vọng Ý nghĩa của máng cỏ
Lễ Giáng sinh, nguồn hy vọng-Ý nghĩa của máng cỏ
ROMA - Tại sao Kitô hữu chào mừng sự ra đời của một hài nhi cách đây hơn 2000 năm? Tại sao Kitô hữu kỷ niệm việc ra đời này bằng cách thực hiện hoặc giải thích một máng cỏ? Việc ba nhà đạo sĩ đến và sự hiện diện của con lừa và con bò có đúng với thực tế không? Và ngày nay sự ra đời như thế có ý nghĩa gì?
Linh mục Pietro Messa, Giám đốc trường Cao đẳng nghiên cứu Trung cổ và Phan sinh thuộc Đại Học Giáo Hoàng Antonianum, trả lời cho độc giả của hãng tin Zenit.
Zenit – Theo cha, đâu là các lý do mà nhờ đó truyền thống làm máng cỏ là một điều tốt lành?
Cha Messa - Đức tin trước tiên là sự nhìn nhận một sự Hiện diện trong lịch sử cá nhân và cộng đồng, và cầu nguyện là kỷ niệm, chứ không chỉ nhớ, sự hiện diện của Chúa bên cạnh chúng ta. Từ cuộc gặp gỡ này nảy sinh một cuộc sống mới, nói cách khác nảy sinh một sự đạo đức: nếu không có như vậy, hành động của con người rơi vào một luân lý èo uột. Chính vì thế cần có các dấu hiệu để giúp chú ý đến sự đồng hành của Chúa bên cạnh con người, chẳng hạn các bài hát, hoặc một hình ảnh, hoặc đọc một bản văn.
Máng có là thực sự như thế: là một phương tiện, qua nhiều thế kỷ, đã được chứng minh là hiệu quả để không làm quên Chúa Giêsu, người bạn đồng hành khiêm hạ của Thiên Chúa bên cạnh con người.
Zenit - Đâu là các lý do thúc đẩy thánh Phanxicô Átxidi suy nghĩ và thực hiện một máng cỏ? Và các lý do nào vẫn luôn là hợp thời?
Cha Messa – Tác giả Tôma thành Celano, nhân dịp lễ phong thánh cho Thánh Phanxicô Átxidi, chưa đầy hai năm sau khi thánh nhân qua đời, đã viết tiểu sử của Ngài, kể rằng tại Greccio năm 1224, thánh nhân muốn "kỷ niệm việc Hài nhi ra đời tại Bê Lem, và nhận ra một cách nào đó với con mắt thân xác các khó khăn, mà Hài nhi gặp phải, khi sinh ra mà không có các vật cần thiết cho một bé sơ sinh; làm thế nào Hài nhi đã nằm trong máng cỏ và làm thế nào Hài nhi đã nằm giữa con bò và con lừa". Do đó người ta hiểu rằng Noel năm ấy Thánh Phanxicô muốn rằng bản thân mình và các người khác kỷ niệm việc làm thế nào Chúa xuống thế trong nghèo khó; kỷ niệm một cách cụ thể riêng cho mầu nhiệm nhập thể, bằng cách cũng làm cho con mắt thân xác can thiệp vào nữa.
Cũng cần phải nhắc lại rằng trong đêm ấy “nghi thức long trọng của Thánh lễ được cử hành trên máng cỏ". Không có sự đại diện nào của Chúa Giêsu, bởi vì Thánh Phanxicô nhận ra rằng Thánh Thể là ở nơi mà mỗi ngày Đấng Tối Cao xuống giữa chúng ta, và nơi mà Chúa Giêsu thực sự hiện diện với thịt và máu của Người.
Zenit – Trong cuốn sách mới nhất của mình, ĐTC Biển Đức XVI khẳng định rằng con bò và con lừa không được đề cập trong các sách Tin Mừng, nhưng chúng có một ý nghĩa thần học chính xác. Cha có thể giải thích rõ về điều này không?
Cha Messa – Con bò và con lừa vắng mặt trong các trình thuật Tin Mừng, nhưng các Giáo Phụ giải thích câu Kinh Thánh "Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó” (Is 1, 3), khi đồng hóa con bò và cái ách với dân Do Thái phục tùng lề luật, và đồng hóa con lừa với dân ngoại, nghĩa là với người chưa chịu cắt bì. Như thế, qua việc ra đời giữa con bò và con lừa, thì Chúa Giêsu, như lời thánh Phaolô nói, đã làm cho cả hai dân thành một dân, bằng cách chỉ hạ bức tường ngăn cách thù hận. Thánh Phanxicô, người học Tin Mừng chủ yếu qua phụng vụ và truyền thống của Giáo Hội, đã muốn rằng trong đêm Noel năm 1224 tại Greccio, cũng có con bò và con lừa.
Zenit – Việc các đạo sĩ đến và hiện diện bên máng cỏ là một sự kiện lịch sử có thật, hay chỉ là một huyền thoại?
Cha Messa - Chúa Giêsu là sự hoàn tất các lời hứa mà Thiên Chúa làm cho dân Do thái của Ngài, nhưng cũng là ước muốn và khát vọng của tất cả mọi người, và chính chuyến thăm của các nhà đạo sĩ từ phương Đông đến Bê Lem nói lên điều này. Điều quan trọng là các sách Tin Mừng, như thánh Phanxicô khẳng định, cần được đọc với đức tin, với con mắt của tâm hồn về những gì con mắt xác thịt đã thấy. Nhị thức “thấy và tin” là quan trọng đối với vị thánh thành Átxidi; do đó, đức tin ngay thẳng là không mù quáng, nhưng trái lại là "nhìn thấy" cách sâu hơn vào mầu nhiệm của các sự kiện, kể cả chuyến thăm của các đạo sĩ đến Bê Lem.
Zenit – Xin cha cho một suy tư gợi ý cho Giáng Sinh năm nay...
Cha Messa - Trong bối cảnh lịch sử hiện nay, sự cám dỗ liên tục, mà chúng ta phải chịu cho cá nhân và cộng đồng, chính là sự nản lòng, sự sầu não trước cuộc khủng hoảng, không chỉ về kinh tế, mà còn gia đình, xã hội, trong đó người ta sinh sống. Lễ Giáng sinh, là loan báo rằng trong thực tại chính xác, rất phức tạp và mâu thuẫn đến nỗi gần như phi lý, có sự hiện diện của Chúa, Vị Mục Tử Nhân Lành. Tất cả điều này sẽ trở thành một nguồn hy vọng, không phải trong một ý nghĩa lạc quan, nhưng trong sự tin chắc rằng Hài nhi ở Bê Lem là thực sự trung tâm của vũ trụ và lịch sử. Vì vậy, lễ Giáng sinh là sự loan báo niềm hy vọng cho mọi người! (ZENIT.org 17-12-2012)
Nguyễn Trọng Đa
VietCathohlic
Ngày 22 tháng 12 Mùa Vọng
BÀI ĐỌC I: 1 Sm 1, 24-28
"Bà Anna tạ ơn Chúa vì được sinh Samuel".
Trích sách Samuel quyển thứ nhất.
Ngày ấy, sau khi đã cho Samuel dứt sữa, bà Anna liền bắt một con bò ba tuổi, lấy ba cân bột, một vò rượu, và dẫn con đến nhà Chúa ở Silô. Con trẻ lúc đó còn nhỏ bé. Họ tế lễ con bò và dâng con trẻ cho ông Hêli. Anna thưa: "Kính lạy ngài, chúc ngài khang an! Tôi là người đàn bà nọ đã đứng cầu xin Chúa nơi đây trước mặt ngài. Tôi đã cầu xin vì trẻ này, và Chúa đã cho tôi được như tôi xin. Vậy tôi xin dâng lại cho Chúa, trót mọi ngày nó thuộc về Chúa". Và họ thờ lạy Chúa ngay ở đó. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: 1 Sm 2, 1. 4-5. 6-7. 8abcd
Đáp: Lòng tôi nhảy mừng trong Chúa cứu độ tôi (c. 1a).
Xướng: 1) Lòng tôi nhảy mừng trong Chúa, khí phách tôi hướng lên Thiên Chúa của tôi, miệng tôi rộng mở chống quân thù, tôi vui mừng vì Chúa cứu độ tôi. - Đáp.
2) Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, người kiệt sức lại nai nịt dũng khí; kẻ no đầy nay làm thuê vì miếng bánh, người đói lả nay lại được no nê. Người son sẻ lại con đàn cháu đống, kẻ nhiều con lại trở nên héo tàn. - Đáp.
3) Chúa cho chết và Chúa làm cho sống, cho đi xuống mồ rồi lại đem lên, làm cho nghèo rồi cho nên giàu có, hạ xuống thấp rồi lại nhắc lên cao. - Đáp.
4) Cho kẻ bần cùng đứng dậy khỏi bụi tro, nâng cao kẻ nghèo khỏi phân nhơ rác rến, cho ngồi chung với vua quan tướng lãnh, đặt cho họ một ngai báu vinh quang. - Đáp.
ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! - Lạy Vua muôn dân và Đá Góc toà nhà Hội thánh, xin hãy đến cứu độ con người mà Chúa đã tạo dựng bằng bùn đất! - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 1, 46-56
"Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những sự trọng đại".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Maria nói rằng: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những ai kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai lòng trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng, và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi Người đến muôn đời!"
Maria ở lại với bà Isave độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình.
Đó là lời Chúa.
Suy Niệm
LINH HỒN TÔI NGỢI KHEN CHÚA, VÌ THIÊN CHÚA, ĐẤNG CỨU ĐỘ TÔI
Lời diễn giải thời danh và dài nhứt của Mẹ Maria: "Bài ca Ngợi Khen” (Magnificat).
Có lẽ thay vì là "bài ca", chúng ta có thể nói là "lời cầu nguyện chúc tụng" của Mẹ thì đúng hơn.
Đây là lời cầu nguyện được cấu tạo nên bằng nhiều đoạn trích dẫn Thánh Kinh.
Chúng ta hãy dành lại cho các nhà khảo cứu chuyên môn tìm hiểu các xuất xứ và tác giả được trích trong lời kinh, còn chúng ta, trong phạm vi của bài suy niệm, nên đi vào một vài điều có nội dung nổi bật hơn.
Khởi đầu, người cầu nguyện hân hoan vui mừng và cảm thấy mình được nâng cao lên, bởi vì mình được cứu độ:
- "Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi" (Lc 1, 46-47).
Như vậy chúng ta có thể nhận ra được "ơn cứu độ" là chủ đề chính của lời kinh Magnificat.
Ơn cứu độ có nguyên do và nguồn mạch phát xuất từ Thiên Chúa và nơi con người Mẹ Maria nói riêng và nơi nhân loại chúng ta là những kẻ được Chúa ban cho: "vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi".
Ơn cứu độ không phải là một niềm hy vọng lơ lửng, tổng quát, vô định nào đó, mà là động tác cử hành một biến cố. Động tác đó được thực hiện trong thời điểm xuất hành ra khỏi Ai Cập, giờ đây trong Phúc Âm đang được thực hiện vì thời điểm của Đấng Thế đã đến.
Mặc cho không có các mối liên hệ trực tiếp, nhưng cách xếp đặt "Lời Nguyện Ngợi Khen" của Phúc Âm Thánh Luca cho thấy rõ định ý của ngài liên kết lời cầu nguyện đó của Mẹ Maria với biến cố Chúa Giêsu sinh ra, mà cậu Gioan đang trong bụng mẹ cảm nhận được.
Trong Phúc Âm không bao giờ chúng ta thấy Mẹ Maria được đề cập đến, mà không có một mối liên hệ nào với Chúa Giêsu.
Đọc những lời cầu nguyện của Mẹ, không ai là không thấy được công trình thay đổi, lật ngược của Thiên Chúa:
- "Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi có phúc...
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ nghèo đói, Chúa ban đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng ..." (Lc 1, 48.51-53).
Công trình cứu rỗi của Chúa không phải là đạp đổ, đảo lộn, phá hoại, mà đúng hơn là lập lại một trật tự, để xếp đặt lại theo những gì con người đã làm bấn loạn, ngược đảo, do tội lỗi gây nên.
Ơn cứu độ được hát lên, để ngợi khen Chúa
- "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa..., vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi" (Lc 1, 46-47), để nói lên giá trị của những kẻ "anawim" (có tinh thần khó nghèo), đặt lòng tin tưởng và phó thác của mình vào tay Chúa:
- "Kẻ nghèo đói, Chúa ban đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng" (Lc 1, 53).
Và như vậy, những kẻ có tinh thần khó nghèo, dọn sẵn tâm hồn trống trải và con tim mở rộng để cho Chúa hành động.
Tâm hồn trống trải và con tim mở rộng đó làm cho Chúa có thể thiết lập lại trật tự mà Người đã đặt vào tâm khảm con người, với ấn tín "là điều tốt đẹp" và "giống hình ảnh Thiên Chúa", khi Chúa dựng nên con người (Kn 1, 27).
Lời nguyện Ngợi Khen (Magnificat) không có cấu trúc, cũng như tư tưởng gì đặc biệt, mới mẻ, mà chỉ giới hạn nhắc lại những chủ đề ai cũng biết được trong Cựu Ước, nhất là trong các Thánh Vịnh.
Bởi đó nhiều nhà Thánh Kinh Học coi như là những lời kinh thu thập từ Thánh Kinh. Có thể là như vậy.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần biết rằng những điều mới lạ, chúng ta có thể thu nhận được khi chúng thật sự phát xuất từ con tim và từ cuộc sống.
Câu nói "anh yêu em", "em yêu anh" là câu nói chúng ta đã được nghe đi, nghe lại hàng chục, hàng trăm lần, hay hơn nữa, nhưng mỗi lần được nói lên ai trong chúng ta cũng thích nghe, và còn muốn nghe thêm, bởi vì là câu nói mới mẻ, phát xuất từ con tim của người nói, làm cho người nghe cảm thầy xôn xao, cảm động.
Cũng vậy, Mẹ Maria nhắc lại các chủ đề, tư tưởng cầu nguyện cũ, nhưng những lời cầu nguyện đó của Mẹ chứa đầy những mới mẻ, chứng minh cho thấy lý lẽ chính đáng của nguyên tắc Thiên Chúa không làm ra những tạo vật mới, mà làm mới lại tạo vật Người đã dựng nên:
- Đấng ngự trên ngai phán: "Nầy đây Ta đổi mới mọi sự" (Kh 21, 5).
Mẹ Maria làm cho các lời nguyện cũ trong Thánh Kinh thành mới mẻ, khi Mẹ cầu nguyện lên với con tim của Mẹ, cũng như Phép Rửa đổi mới các tạo vật đã hiện hữu, bằng cách chuyển hoá các tạo vật đó từ bên trong.
Lời cầu nguyện của Mẹ trong kinh Ngợi Khen (Magnificat) tuyên xưng cho chúng ta biết những gì Thiên Chúa đã làm nơi Mẹ, cũng như những gì Người đã và đang làm nơi mọi tín hữu của Người.
Niềm hân hoan và biết ơn là hai đặc tính nổi bật trong lời nguyện Ngợi Khen của Mẹ Maria, được thốt lên để tôn vinh Thiên Chúa cao cả, nhưng cũng làm trở thành cao cả người đã hát lên, Mẹ Maria và mọi người chúng ta mỗi khi chúng ta cầu nguyện với Chúa, để vinh danh Thiên Chúa:
- "Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;
Từ nay mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc" (Lc 1,48).
Lm. Tạ Duy Tuyền
Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012
21/12 – Thứ sáu. "Bởi đâu mà tôi được ơn này, là Mẹ Thiên Chúa tôi đến viếng thăm tôi".
Thánh Phêrô Canisiô, Linh Mục Tiến Sĩ Hội Thánh-(1521-1597)
Thánh Phêrô Kanijs (Canisiô) sinh tại Nimègue miền Geldria nước Hòa Lan năm 1521, nhưng ngài đã sống hầu như suốt cuộc đời tại Ðức. Năm 1543, ngài vào dòng Tên tại Cologne, và nổi tiếng là một học giả uyên thâm trong nhiều lĩnh vực. Ngài đã từng giữ chức vụ giáo sư, giảng thuyết, dạy giáo lý, sứ giả của Ðức Thánh Cha, Bề Trên nhà dòng, Giám tỉnh tại Ðức và Áo, thiết lập các Chủng Viện và học viện. Ngoài ra, ngài còn là một nhà văn, đã viết nhiều tác phẩm giá trị và được phổ biến khắp nơi, chúng ta phải kể đến cuốn "Tổng luận về giáo lý Công Giáo" (1555) và nhất là cuốn "Giáo lý" (1556). Các hoạt động của ngài chỉ nhằm một mục đích là: phục vụ Giáo Hội, chống lại học thuyết của Luther đang bành trướng tại Ðức. Vào thế kỷ thứ XVI, một phần lớn nước Ðức còn lại trung thành với Giáo Hội, đó là công lao của thánh Phêrô Canisiô. Ngài đã trải qua những năm sau cùng tại Fribourg (Thụy Sĩ) với những chức vụ khiêm nhường trong lĩnh vực hoạt động tông đồ và bác ái.
Ngài qua đời tại đây ngày 21/12/1597, hưởng thọ 76 tuổi.
Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đồng thời ban cho tước hiệu Tiến Sĩ Giáo Hội năm 1925.
LỜI CHÚA: Lc 1, 39-45
Ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Giacaria và chào bà Isave, và khi bà Isave nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà; và bà Isave được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng: "Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này, tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện".
SUY NIỆM 1: Đi thăm bà Isave
Đời người là một cuộc hành trình, và cuộc hành trình nào cũng là một thứ cưu mang: mơ ước được gặp gỡ, chia sẻ, sống trong tự do, xây dựng nhiều hăm hở.
Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, đon đả ra đi lên miền sơn cước. Đức Maria đã chỗi dậy, vì cưu mang con trong lòng. Cưu mang con trong lòng cũng có nghĩa là nuôi dưỡng một niềm vui bất tận: đứa con càng lớn, niềm vui càng tăng.
Niềm vui nào cũng đòi được chia sẻ. Đức Maria đã không cất giữ trong lòng niềm vui vừa cưu mang, nhưng Người đã vội vàng đem niềm vui đến cho người khác.
Đích điểm cuộc hành trình của Đức Maria là một miền núi. Núi cao là nơi trắc trở, nhưng cũng thường là nơi hẹn hò giữa Thiên Chúa và con người. Và cũng từ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, con người mới có thể đến với người khác.
Cuộc hạnh ngộ giữa Đức Maria và người chị họ Isave là kết thúc của cuộc ra đi. Không ai đi để tiến về cô đơn, để giam mình trong cõi chết, nhưng ra đi là để gặp gỡ, chia sẻ.
Đời người Kitô hữu là một hành trình trong đức tin. Hành trình nào cũng có khởi điểm và đích điểm. Cũng như Đức Maria đã tiến lên đường sau khi cưu mang Chúa Giêsu, người Kitô hữu cũng khởi đầu cuộc hành trình bằng sự sống Thiên Chúa đã được thông ban qua Bí tích rửa tội.
Cưu mang sự sống mới, người Kitô hữu cũng vội vã ra đi đem niềm vui cho người khác, đó là tất cả sứ mệnh và ý nghĩa của đời sống đức tin. Người cưu mang Đức Kitô phải ý thức rằng đạo của họ là đạo Tin mừng, đường của họ là đường của rộn rã, vui tươi…
Điểm đến của cuộc hành trình dĩ nhiên là cuộc sống vĩnh cửu, nhưng cuộc sống này cũng chỉ là một cuộc gặp gỡ nối dài những gặp gỡ mà con người đã thực hiện trong cuộc sống tại thế. Điểm đến ấy sẽ không đến với những ai đã chối bỏ gặp gỡ Thiên Chúa trong cuộc sống này. Điểm đến ấy sẽ không bao giờ hiện ra đối với những ai đã chối bỏ gặp gỡ người anh em trong cuộc hành trình tại thế.
Mùa vọng là mùa của cưu mang, của cất bước ra đi. Chúng ta hãy để Đức Kitô lớn lên trong tâm tư, suy nghĩ, hành động của chúng ta. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hay ra đi đến với người khác. Cùng với Đức Kitô, chúng ta hãy biến mọi gặp gỡ hằng ngày thành những trao đổi của yêu thương, phục vụ, quên mình, tha thứ và vui tươi.
SUY NIỆM 2: Chia sẻ đức tin.
Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”. (Lc. 1, 40-42)
Ngay sau khi Đức Maria biết bà Ê-li-sa-bét đã quá già mà sắp sinh cậu ấm, Mẹ đã đến thăm viếng bà, không phải để xác minh lời thiên sứ có thật không, nhưng để thực thi thánh ý Thiên Chúa và thăm viếng bà chị cùng đồng cảnh với mình. Hơn thế nữa, Đức Maria thấy cần chia sẻ niềm vui và lòng tin của mình với người khác.
Cả hai đều luôn dễ vâng lời và hiểu biết thánh ý Chúa. Cả hai đều được Thiên Chúa đã làm những sự lạ lùng.
Tin mừng tường thuật cho chúng ta biết một cách vắn gọn về việc đã xảy ra giữa hai người nữ diễm phúc. Người ta tưởng tượng khá tốt rằng: Cả hai đã cống hiến một thời gian dài để giúp nhau khám phá ra ý nghĩa về việc sẽ xảy đến với hai bà. Và như tất cả các bà mẹ, hai bà mơ ước về hai đứa con sẽ trở nên thế nào …
Phần chúng ta, họa hiếm lắm chúng ta mới biết chia sẻ niềm tin của mình cho người khác, vì thực sự chúng ta không quen. Khi những người tín hữu chúng ta gặp nhau, hầu hết là để tổ chức hoạt động, để thảo luận vấn đề khác. Chúng ta rất ít khi tụ họp để bày tỏ cho nhau những tâm tình tận đáy con tim, những điều chúng ta tin tưởng, những điều chúng ta trông cậy. Chúng ta không dám cởi mở cho nhau hết tấm lòng mình về Đức Kitô. Chúng ta không dám nói cho người khác những điều Thiên Chúa đối với mình, đã làm cho mình, với vợ con mình, và cả với các bạn tri kỷ của mình. Chúng ta hầu như không bao giờ nói về Đức Kitô.
Chính vì thế, chúng ta hình như đã quên, hay hình như đã không còn hiểu gì về Đức Kitô, đến nỗi chúng ta thực sự rất cô đơn trong niềm tin. Thực thế, chúng ta còn nhiều điều phải học biết.
Chúng ta cần thiết phải biết lòng tin của người khác để củng cố lòng tin của chúng ta. Và người khác cũng cần biết lòng tin của chúng ta để củng cố niềm tin của họ.
Khi Mẹ Maria và bà Ê-li-sa-bét gặp nhau, các ngài nói cho nhau biết thông cảm những điều lạ lùng mà Thiên Chúa đã làm cho mình để tạ ơn ngợi khen Thiên Chúa. Nếu chúng ta biết chia sẻ lòng tin của chúng ta với nhau, có lẽ chúng ta sẽ thấy được những sự lạ lùng Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.
J.Y.G
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012
Giáng sinh rộn rã khắp thế giới
Giáng sinh không chỉ còn là một ngày lễ của những tín đồ Thiên chúa giáo mà đã trở thành mùa lễ hội và mua sắm náo nhiệt trong năm ở khắp nơi trên thế giới.
| Mọi người tập trung đông đúc quanh cây thông cao 21m được thắp sáng bởi hơn 30.000 bóng đèn trong lễ hội ánh sáng hàng năm lần thứ 74 tại New York, Mỹ. |
| Cây thông Noel được làm từ 276 chú gấu tại khách sạn Grand Intercontinental ở Seoul, Hàn Quốc. |
| Không khí Giáng sinh tràn ngập khắp mọi nơi, trong ảnh đại lộ Regent ở London, Anh được trang hoàng bởi ánh đèn neon rực rỡ. |
| Pháo hoa rực sáng bên cạnh cây thông cao 85m được bố trí nổi trên mặt nước tại Rio de Janeiro, Brazil. |
| Những chàng trai dắt tuần lộc trong bữa tiệc giáng sinh tại nhà của Thủ tướng Anh David Cameron tại số 10 phố Downing, London. |
| Một ngôi nhà được trang trí theo phong cách truyền thống ở South Shields vương quốc Anh. |
| Người dân Hongkong, Trung Quốc nô nức đi mua sắm trong mùa giáng sinh. |
| Những người theo đạo Thiên chúa ở Pakistan trang trí cây thông Noel ở thành phố Peshawar. |
| Dịp Giáng sinh, thủ đô London của Anh được thắp sáng bởi hàng triệu ánh đèn trang trí. |
| Phố Carnaby ở London, Anh ngập tràn ánh sáng. |
| Người dân náo nức mua sắm tại hội chợ Noel tại trung tâm thành phố Dortmund, Đức. |
Theo VnExpress
Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012
Ngày 17 tháng 12 Mùa Vọng
BÀI ĐỌC I: St 49, 2. 8-10
"Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa".
Bài trích sách Sáng Thế.
Ngày ấy, Giacóp triệu tập con cái lại và nói rằng: "Hỡi con cái Giacóp, hãy hợp lại và nghe cha đây. Hỡi nhà Israel, hãy nghe lời cha của các con. Giuđa, anh em con sẽ ca tụng con. Bàn tay con sẽ đè trên ót quân thù; con cái của cha con sẽ phục lạy con. Giuđa là sư tử con, hỡi con của cha, con đã chồm lên bắt mồi, con đã nằm xuống nghỉ ngơi, như giống sư tử đực, tựa nòi sư tử cái, ai dám khiêu khích nó? Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa, gậy chỉ huy không rời khỏi chân nó, cho đến lúc Đấng thiên sai ngự đến, là Đấng chư dân đợi trông". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 71, 2. 3-4ab. 7-8. 17
Đáp: Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người tới muôn đời (x. c. 7).
Xướng: 1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực. - Đáp.
2) Núi non đem an hoà cho dân, và nổng đồi mang lại đức công chính. Người bênh chữa kẻ hèn trong dân, và cứu thoát con cái nhóm nghèo. - Đáp.
3) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất. - Đáp.
4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người. - Đáp.
ALLELUIA:
Alleluia, alleluia! - Lạy Đức Thượng Trí của Đấng Tối Cao, Ngài an bài mọi sự cách mạnh mẽ và dịu dàng, xin hãy đến dạy dỗ chúng con con đường khôn ngoan. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mt 1, 1-17
"Gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Đavít".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Sách gia phả của Chúa Giêsu Kitô, con vua Đavít, con của Abraham. Abraham sinh Isaac; Isaac sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuđa và các anh em người. Giuđa sinh Phares và Zara ?bởi bà Thamar; Phares sinh Esrom; Esrom sinh Aram; Aram sinh Aminadab; Aminadab sinh Naasson; Naasson sinh Salmon; Salmon sinh Booz do bà Rahab; Booz sinh Giobed do bà Rút. Giobed sinh Giêsê; Giêsê sinh vua Đavít.
Đavít sinh Salomon do bà vợ của Uria; Salomon sinh Robo-am; Roboam sinh Abia; Abia sinh Asa; Asa sinh Giosaphát; Giosaphát sinh Gioram; Gioram sinh Ozia; Ozia sinh Gioatham; Gioatham sinh Achaz; Achaz sinh Ezekia; Ezekia sinh Manas-se; Manasse sinh Amos; Amos sinh Giosia; Giosia sinh Giêconia và các em trong thời lưu đày ở Babylon.
Sau thời lưu đày ở Babylon, Giêconia sinh Salathiel; Sala-thiel sinh Zorababel; Zorababel sinh Abiud; Abiud sinh Eliakim; Eliakim sinh Azor; Azor sinh Sađoc; Sađoc sinh Akim; Akim sinh Eliud; Eliud sinh Eleazar; Eleazar sinh Mathan; Mathan sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuse, là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Đức Kitô.
Vậy, từ Abraham đến Đavít có tất cả mười bốn đời, từ Đavít đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời. Đó là lời Chúa.
Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012
Chúa Nhật III Mùa Vọng Năm C-2012 VUI VÌ CÓ CHÚA TRONG ĐỜI
Suy niệm tin mừng của Lm. Anmai, CSsR
Một khi ta rơi vào cảnh nợ nần, tội lỗi thì ta sẽ cảm thấy buồn vì ta sẽ bị kết án. Và một khi ta trả được nợ, ta thanh sạch thì ta sẽ cảm thấy vui và hạnh phúc vì mình được giải thoát.
Với lẽ hết sức bình thường đó, chúng ta vừa nghe ngôn sứ Xôphônia diễn tả tâm tình của mình. Xôphônia mời gọi dân Sion : "Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa.
Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng. Những kẻ hư hỏng bỏ lề luật, Ta sẽ quy tụ họ lại, vì họ cũng là con cái ngươi".
Thật sự mà nói khi có Chúa ở giữa, ở ngay bên thì còn hạnh phúc, còn nguồn vui gì bằng. Phải chăng đó là mong ước, là sự chờ mong của muôn muôn ngàn thế hệ.
Và, chúng ta cũng bắt gặp tâm tình vui mừng khi có Chúa ở cùng của ngôn sứ Isaia trong đáp ca mà chúng ta vừa hát với nhau :
Hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả.
Ðây Thiên Chúa, Ðấng Cứu Chuộc tôi.
Tôi sẽ tin tưởng mà hành động, tôi không run sợ:
vì Thiên Chúa là sức mạnh của tôi và là Ðấng tôi ca ngợi.
Người trở nên phần rỗi của tôi.
Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng cứu độ:
Hãy tung hô Chúa, hãy kêu cầu thánh danh Người,
hãy công bố cho các dân tộc biết các kỳ công của Người,
hãy nhớ rằng danh Người rất cao trọng.
Hãy hát mừng Chúa, vì Người đã làm những việc cả thể,
hãy công bố việc này trên khắp địa cầu. Hỡi dân Sion,
hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi,
có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả.
Chuyện quan trọng không còn gì khác đó là có Chúa ở cùng chứ không phải là chuyện gì khác.
Không chỉ Xôphônia, Isaia mà trải qua bao thế hệ vui vì niềm vui có Chúa ở cùng. Ai nào đó khi có Chúa trong lòng mình, trong đời mình cũng sẽ vui như thế.
Niềm vui ấy, chúng ta lại bắt gặp nơi tâm tình của Thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê : "Anh em thân mến, anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Ðức ôn hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.
Vui vì có Chúa ở cùng, vui vì có Chúa ở trong cuộc đời của mình.
Và, như thế Chúa vẫn là niềm mong đợi, là niềm chờ mong của con người, của những ai tìm kiếm Chúa.
Niềm vui ấy đã đến với nhân loại qua lời loan báo của Gioan Tiền Hô. Gioan đã gợi mở, đã loan báo niềm vui cho dân.
Hôm nay, dân gặp Gioan và dân hỏi thẳng Gioan rằng Gioan có phải là đấng phải đến, là đấng mà muôn dân mong đợi hay không. Nghe những lời chất vấn đó, Gioan đã trả lời thẳng với dân rằng : "Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!"
Không dừng lại ở lời loan báo đó, Gioan còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.
Chúa đã đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta rồi thế nhưng mà chúng ta vẫn cứ khư khư và khép lòng lại để rồi không thấy vui được. Không thấy Chúa thì làm sao mà vui được. Bởi sao người ta không thấy Chúa ? Bởi lẽ người ta quá ích kỷ để rồi không thấy Chúa trong cuộc đời của mình.
Chúa đến và Chúa ban cho mỗi người chúng ta quá nhiều ơn nhưng hình như mắt đã mờ và không còn thấy sự hiện diện. Một lúc nào đó ta lắng lại cuộc đời, ta đọng lại cuộc đời của ta ta sẽ thấy dẫu rằng ta vẫn còn đau khổ, vẫn còn thiếu thốn nhưng ta hạnh phúc hơn nhiều người, nhất là người ở cạnh chúng ta. Càng xa thành phố, càng về những vùng xa vùng sâu chúng ta sẽ nhận ra tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta như thế nào ?
Cuộc sống của ta, nhiều lúc nó cứ quay quắt bởi vì chúng ta thấy chúng ta thiếu cái này cái kia. Lòng tham của con người, nhu cầu của con người phải chăng là không cùng. Không bao giờ ta bằng lòng với cái ta đang có cả để rồi ta cứ quay quắt đi tìm. Và, hình như càng đi tìm chúng ta càng thấy thiếu và khi ta thấy thiếu vật chất thì ta càng cảm thấy không hề có Chúa trong cuộc đời của ta.
Chuyện quan trọng ở đời này chính là chuyện ta bằng lòng với cái ta đang có, bằng lòng với những giây phút hiện tại.
Gioan mời gọi dân chúng hết sức hay : "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình". Gioan cũng dặn mọi người : "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy"
Khi ta thấy mình đủ và khi ta thấy ơn Chúa là đủ cho ta thì ta thấy vui và khi đó ta sẵn sàng làm điều mà Gioan mời gọi.
Vẫn là khó chứ không phải đơn giản. Khó nhưng làm được chứ không phải là không làm được. Trong lắng đọng, trong lặng thầm của cuộc đời ta sẽ nhận ra một chân lý của cuộc đời đó là khi ta nằm xuống ta chẳng mang theo được gì. Và như vậy, sống trên đời này không phải là chuyện giàu hay nghèo, sang hay hèn, đại gia hay tiểu gia nhưng chuyện quan trọng là có Chúa.
Chúa đã đến và Chúa đã ở giữa chúng ta, giữa cuộc đời chúng ta rồi. Chúng ta hãy vui lên và hãy chia sẻ những gì Chúa ban cho chúng ta để niềm vui có Chúa trong đời đó được nhân đôi trong cuộc đời của chúng ta.
Lm Anmai, 16-12-2012
Một khi ta rơi vào cảnh nợ nần, tội lỗi thì ta sẽ cảm thấy buồn vì ta sẽ bị kết án. Và một khi ta trả được nợ, ta thanh sạch thì ta sẽ cảm thấy vui và hạnh phúc vì mình được giải thoát.
Với lẽ hết sức bình thường đó, chúng ta vừa nghe ngôn sứ Xôphônia diễn tả tâm tình của mình. Xôphônia mời gọi dân Sion : "Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa.
Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng. Những kẻ hư hỏng bỏ lề luật, Ta sẽ quy tụ họ lại, vì họ cũng là con cái ngươi".
Thật sự mà nói khi có Chúa ở giữa, ở ngay bên thì còn hạnh phúc, còn nguồn vui gì bằng. Phải chăng đó là mong ước, là sự chờ mong của muôn muôn ngàn thế hệ.
Và, chúng ta cũng bắt gặp tâm tình vui mừng khi có Chúa ở cùng của ngôn sứ Isaia trong đáp ca mà chúng ta vừa hát với nhau :
Hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả.
Ðây Thiên Chúa, Ðấng Cứu Chuộc tôi.
Tôi sẽ tin tưởng mà hành động, tôi không run sợ:
vì Thiên Chúa là sức mạnh của tôi và là Ðấng tôi ca ngợi.
Người trở nên phần rỗi của tôi.
Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng cứu độ:
Hãy tung hô Chúa, hãy kêu cầu thánh danh Người,
hãy công bố cho các dân tộc biết các kỳ công của Người,
hãy nhớ rằng danh Người rất cao trọng.
Hãy hát mừng Chúa, vì Người đã làm những việc cả thể,
hãy công bố việc này trên khắp địa cầu. Hỡi dân Sion,
hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì ở giữa ngươi,
có Ðấng Thánh của Israel thật cao cả.
Chuyện quan trọng không còn gì khác đó là có Chúa ở cùng chứ không phải là chuyện gì khác.
Không chỉ Xôphônia, Isaia mà trải qua bao thế hệ vui vì niềm vui có Chúa ở cùng. Ai nào đó khi có Chúa trong lòng mình, trong đời mình cũng sẽ vui như thế.
Niềm vui ấy, chúng ta lại bắt gặp nơi tâm tình của Thánh Phaolô gửi tín hữu Philipphê : "Anh em thân mến, anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Ðức ôn hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.
Vui vì có Chúa ở cùng, vui vì có Chúa ở trong cuộc đời của mình.
Và, như thế Chúa vẫn là niềm mong đợi, là niềm chờ mong của con người, của những ai tìm kiếm Chúa.
Niềm vui ấy đã đến với nhân loại qua lời loan báo của Gioan Tiền Hô. Gioan đã gợi mở, đã loan báo niềm vui cho dân.
Hôm nay, dân gặp Gioan và dân hỏi thẳng Gioan rằng Gioan có phải là đấng phải đến, là đấng mà muôn dân mong đợi hay không. Nghe những lời chất vấn đó, Gioan đã trả lời thẳng với dân rằng : "Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, - tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, - chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!"
Không dừng lại ở lời loan báo đó, Gioan còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.
Chúa đã đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta rồi thế nhưng mà chúng ta vẫn cứ khư khư và khép lòng lại để rồi không thấy vui được. Không thấy Chúa thì làm sao mà vui được. Bởi sao người ta không thấy Chúa ? Bởi lẽ người ta quá ích kỷ để rồi không thấy Chúa trong cuộc đời của mình.
Chúa đến và Chúa ban cho mỗi người chúng ta quá nhiều ơn nhưng hình như mắt đã mờ và không còn thấy sự hiện diện. Một lúc nào đó ta lắng lại cuộc đời, ta đọng lại cuộc đời của ta ta sẽ thấy dẫu rằng ta vẫn còn đau khổ, vẫn còn thiếu thốn nhưng ta hạnh phúc hơn nhiều người, nhất là người ở cạnh chúng ta. Càng xa thành phố, càng về những vùng xa vùng sâu chúng ta sẽ nhận ra tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta như thế nào ?
Cuộc sống của ta, nhiều lúc nó cứ quay quắt bởi vì chúng ta thấy chúng ta thiếu cái này cái kia. Lòng tham của con người, nhu cầu của con người phải chăng là không cùng. Không bao giờ ta bằng lòng với cái ta đang có cả để rồi ta cứ quay quắt đi tìm. Và, hình như càng đi tìm chúng ta càng thấy thiếu và khi ta thấy thiếu vật chất thì ta càng cảm thấy không hề có Chúa trong cuộc đời của ta.
Chuyện quan trọng ở đời này chính là chuyện ta bằng lòng với cái ta đang có, bằng lòng với những giây phút hiện tại.
Gioan mời gọi dân chúng hết sức hay : "Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình". Gioan cũng dặn mọi người : "Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy"
Khi ta thấy mình đủ và khi ta thấy ơn Chúa là đủ cho ta thì ta thấy vui và khi đó ta sẵn sàng làm điều mà Gioan mời gọi.
Vẫn là khó chứ không phải đơn giản. Khó nhưng làm được chứ không phải là không làm được. Trong lắng đọng, trong lặng thầm của cuộc đời ta sẽ nhận ra một chân lý của cuộc đời đó là khi ta nằm xuống ta chẳng mang theo được gì. Và như vậy, sống trên đời này không phải là chuyện giàu hay nghèo, sang hay hèn, đại gia hay tiểu gia nhưng chuyện quan trọng là có Chúa.
Chúa đã đến và Chúa đã ở giữa chúng ta, giữa cuộc đời chúng ta rồi. Chúng ta hãy vui lên và hãy chia sẻ những gì Chúa ban cho chúng ta để niềm vui có Chúa trong đời đó được nhân đôi trong cuộc đời của chúng ta.
Lm Anmai, 16-12-2012
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012
15/12 – Thứ bảy tuần 2 Mùa Vọng "Elia đã đến rồi, và họ không nhận biết ông".
LỜI CHÚA: Mt 17, 10-13
Khi xuống núi, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu rằng: "Tại sao các luật sĩ lại nói Elia phải đến trước đã?"
Chúa Giêsu trả lời: "Thật Elia phải đến để chấn hưng mọi sự. Và Thầy bảo các con, Elia đã đến rồi, và họ không nhận biết ông, nhưng đã đối xử với ông như ý họ. Cũng vậy, Con Người sẽ phải đau khổ bởi họ".
Bấy giờ các môn đệ hiểu Chúa Giêsu nói với họ về Gioan Tẩy Giả.
SUY NIỆM 1: Êlia sẽ đến lại.
Ngày 10/11/1948 / Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã long trọng công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cộng đồng thế giới đã đảm nhận trách nhiệm quảng bá và bênh vực quyền con người như một nghĩa vụ trường kỳ. Gia nhập Liên hiệp quốc có nghĩa là ký tên vào bản tuyên ngôn này và đương nhiên cam kết bênh vực quyền con người.
Thật ra, chỉ Thiên Chúa là Đấng có thể ban cho con người quyền và phẩm giá được làm người mà thôi. Trong tác phẩm: “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng” Đức Gioan Phaolô II đã viết:
“Thật hiển nhiên là quyền con người đã được Đấng sáng tạo ghi khắc trong trật tự của công cuộc sáng tạo. Như vậy chúng ta không thể nói đến những ban nhượng từ phía các tổ chức của con người. Những tổ chức này không làm gì khác hơn là diễn tả những gì chính Thiên Chúa đã ghi khắc trong trật tự Ngài đã tạo dựng: trong lương tâm hay trong quả tim con người như Phaolô đã giải thích trong thư Rôma. Tin Mừng là sự khẳng quyết trọn vẹn nhất về mọi quyền con người. Không có Tin Mừng, chúng ta rất dễ xa lạc với chân lý về con người. Thật thế, Tin Mừng cho thấy các luật thần linh đang bảo toàn trật tự luân lý của vũ trụ và củng cố nó, nhất là qua cuộc Nhập thể. Con người là ai mà Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính con người. Con người phải là ai nếu Con Thiên Chúa đã phải trả một giá đắt nhất cho phẩm giá của nó. Mỗi năm, phụng vụ diễn tả sự thán phục sâu xa của mình khi chiêm ngắm chân lý và mầu nhiệm này trong lễ Giáng sinh cũng như trong đêm Vọng Phục Sinh. “Ôi tội hồng phúc vì ngươi đã mang lại cho chúng ta Đấng Cứu chuộc cao cả”. Đấng Cứu chuộc khẳng quyết quyền con người bằng cách tái lập sự toàn ven của phẩm giá mà con người đã lãnh nhận khi Thiên Chúa tạo dựng nó theo và giống hình ảnh Thiên Chúa.
Những lời trên đây giúp chúng ta hiểu được sứ điệp Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói đến Êlia, Gioan Tẩy giả và chính thân phận của Ngài. Êlia là hiện thân của một cuộc tranh đấu không ngơi nghỉ cho công bằng và quyền con người, Ngài mở ra một thế hệ các tiên tri luôn lên tiếng tố cáo những bất công và kêu gọi tôn trọng phẩm giá con người, nhất là những người cùng khổ, bị áp bức. Chúng ta cũng bắt gặp dung mạo ấy trong vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước là Gioan Tẩy giả. Lời kêu gọi sám hối của Gioan cũng là một cảnh cáo trước những bất công xã hội và vi phạm nhân quyền, nhất là những người thấp cổ bé miệng trong xã hội. Chúa Giêsu xuất hiện trong truyền thống tiên tri ấy. Ngài là tiên tri của các tiên tri, Ngài không những lên tiếng tố cáo bất công, mà còn đề cao quyền và phẩm giá cao trọng của con người nơi những kẻ bé mọn, bị đẩy ra bên lề xã hội. “Con Người cũng phải đau khổ như thế”. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá trước hết là một điển hình cho những vi phạm tôn giáo, nhân danh quyền lợi dân tộc và theo một hình thức tố tụng tùy tiện và độc đoán nhất, người ta đã kết án Ngài phải chết cách bỉ ổi nhất. Tuy nhiên, cũng qua cái chết ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện phẩm giá cao cả của con người.
Chân lý của con người đã được thể hiện trong cái chết của Chúa Giêsu. Cái chết ấy là một lời ngỏ của Thiên Chúa với con người. Con người cao cả đến độ Thiên Chúa đã thí ban người Con Một của Ngài. Dù muốn hay không, không ai chối cãi được rằng ý niệm về nhân quyền như được đề cao trong bản Tuyên ngôn nhân quyền đã cắm rễ sâu trong mầu nhiệm nhập thể và cứu chuộc của Kitô giáo. Người ta không thể hiểu và chấp nhận phẩm giá cũng như các quyền con người, nếu không nhìn nhận nền tảng là con người đã được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa và được cứu chuộc bằng chính cái chết của Chúa Giêsu.
Ước gì cái nhìn ấy luôn là động lực thúc đẩy các kitô hữu nhìn nhận và tôn trọng phẩm giá và quyền con người trong cuộc sống từng ngày nhất là phẩm giá và quyền của những người cùng khổ bị đẩy ra bên lề xã hội.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
SUY NIỆM 2: Họ không nhận ra Ngài
Lời Chúa đối với mỗi người đều có một ý nghĩa riêng áp dụng cho người đó trong cuộc sống hiện tại của mình. Chúa Thánh Thần là Ðấng soi sáng cho chúng ta hiểu biết rõ ràng hơn về chân lý niềm tin, cho nên Ngôi Ba được gọi là Thần Chân Lý và mỗi người đều múc lấy ý nghĩa sống cho mình qua Lời Chúa. Tuy nhiên, vì trình độ mỗi người khác nhau, vì hoàn cảnh mỗi nơi mỗi khác cho nên có thể hiểu Lời Chúa sai lệch đi.
Chúa Giêsu trao quyền rao giảng Lời Chúa cho Giáo Hội qua thánh Phêrô, vị đại diện tối cao của Giáo Hội tiên khởi và kế tiếp là trao cho các Tông Ðồ cho đến ngày nay. Cho nên chúng ta thấy trong Do Thái giáo, các luật sĩ là những người cắt nghĩa luật Chúa và họ đã nói với các môn đệ Chúa Giêsu: "Elia phải đến trước đã". Theo truyền thuyết, Elia là một tiên tri đại diện cho các tiên tri trong Cựu Ước, không chết nhưng được đưa về trời và sau này ông sẽ trở lại và các luật sĩ cắt nghĩa: Cần phải đợi Elia trở lại đã.
Chúa Giêsu cũng xác nhận với các môn đệ: "Thật, Elia phải đến để chấn hưng mọi sự". Elia ấy chính là Gioan Tẩy Giả đã rao giảng sự ăn năn thống hối, hãy sửa lối đi cho ngay thẳng, lối đi quanh queo hãy san cho bằng. Những nơi gồ ghề, hố sâu hãy lấp cho bằng thì mọi người sẽ thấy ơn cứu độ. Gioan tiền hô đã đi trước để dọn đường cho Chúa Kitô sẽ đến sau, Ngài đến để mang ơn cứu độ xuống cho trần gian và một số môn đệ Gioan đi theo Chúa Giêsu để xem Ngài, đồng thời Gioan cũng đã xác định vị thế của mình trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi".
Con người của Gioan Tẩy Giả thật là khiêm nhường trong vị thế của ông: "Còn tôi, tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Người". Gioan Tẩy Giả mang sứ mệnh như tiên tri Elia trong Cựu Ước nhưng cũng là một con người ăn chay hãm mình trong rừng vắng, khiêm nhường, đơn sơ trong công việc dọn đường cho Ðấng Cứu Thế sẽ đến.
Thật là một tấm gương cao quí đáng cho chúng ta bắt chước noi theo. Gioan Tẩy Giả không cao trọng nhờ sự lạ lúc sinh ra nhưng cao trọng do sứ mệnh dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến mà ông đã làm trong sứ mệnh của mình. Trong ngục tối, ông dám nói thẳng sự thật, dám làm chứng nhân cho Thiên Chúa ở giữa trần gian.
Chúa Kitô đến mang sứ mệnh cứu rỗi của Thiên Chúa Cha. Người ta không nhận ra Người, và người ta cũng đối xử với Ngài như các tiên tri trong Cựu Ước, đó là bắt bớ, đánh đập, hành hạ và sau cùng bị lãnh bản án tử hình treo trên thập giá một cách nhục nhã đau thương.
Bao nhiêu năm tháng chờ đợi Ðấng Cứu Thế đến, trải dài trong Cựu Ước vậy mà khi Ngài đến con người đã không nhận ra Ngài. Mỗi người chúng ta đôi lúc cũng đã không nhận ra Ngài trong cuộc sống, chúng ta vẫn nhớ Lời Chúa nhắc với chúng ta: "Ai làm cho một kẻ bé mọn nhất trong anh em ấy là làm cho chính Ta".
Những kẻ bé mọn đó là ai? Thưa, họ là những người mà Chúa Giêsu đã nói::Ta đói các con cho Ta ăn, Ta khát các con cho Ta uống. Ta rách rưới các con đã cho áo mặc. Khi Ta ở tù các con đã viếng thăm". Lời nói của Chúa Giêsu làm mỗi người trong chúng ta suy nghĩ và tự nhận: Ailà anh em tôi? Không phải những ai xa lạ, không phải là những ai ở xa để rồi chúng ta không thấy được. Không phải là những bậc giàu có sang trọng trong xã hội, những người thiếu thốn, những người chạy gạo ăn bữa hôm lo bữa mai, những người không có thân nhân bà con, không mái nhà che mưa che nắng vào những trưa hè nóng oi bức, vào những cơn mưa tàn tã của thời tiết thu đông.
Mỗi người trong chúng ta tự hỏi như người luật sĩ và biệt phái trong Phúc Âm hỏi Chúa Giêsu: "Nhưng ai là anh em tôi?" Chúng ta cùng nhau xin Chúa cho chúng ta biết rõ, cảm nhận một cách sâu xa hơn câu trả lời của mình trong Mùa Vọng này để chúng ta đi đến niềm nở với người anh chị em, cùng nhau nắm chặt bàn tay thân ái đón mừng Chúa đến.
Lạy Chúa, Gioan Tẩy Giả đến để chuẩn bị cho Chúa mang ơn cứu độ đến. Xin cho mỗi người trong chúng con chuẩn bị tâm hồn trong sáng hân hoan để đón Chúa đến trong chúng con và trong gia đình thân yêu của chúng con. Xin Chúa cho mỗi người trong chúng con biết yêu thương nhau, chia sẻ cho nhau tất cả tinh thần và vật chất để trọn niềm vui mừng đón chờ Chúa đến. Amen.
(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ - Radio Veritas Asia)
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
Sống Mùa vọng…(Tâm Tình Mùa Vọng) Tại sao Chúa Giêsu đến thế gian ?
Có lẽ bạn cho đó là một câu hỏi “ngớ ngẩn”, vì ai là Kitô hữu cũng biết Ngài đến cứu độ nhân loại. Đúng vậy, nhưng vẫn có điều khác... Chúng ta đã đón lễ Giáng Sinh nhiều lần, nhưng có thể chúng ta chưa thắc mắc. Mời bạn khám phá điều mới lạ nhân dịp kính mừng lễ Giáng Sinh!
Thánh sử Gioan kể: Ông Philatô hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Ông Philatô nói với Người: “Sự thật là gì?”(Ga 18:37-38).
Tại sao Chúa Giêsu đến thế gian?
Hằng năm, lễ Giáng Sinh đều đặt ra một câu hỏi: Tại sao Chúa Giêsu đến thế gian? Hoặc: Ý nghĩa của Đức Giêsu Kitô là gì? Oặc mang tính cá nhân hơn: Người đàn ông này nên tạo sự khác biệt nào trong đời sống của tôi? Trong hôn nhân của tôi, trong đời tu của tôi, trong công việc của tôi, trong sự nhàn rỗi của tôi, trong suy nghĩ của tôi, trong cảm xúc của tôi, trong mọi sinh hoạt của tôi,…?
Khi Chúa Giêsu bị xét xử, Ngài đã trả lời rõ ràng cho chúng ta về câu hỏi đó: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật” (Ga 18:37). Sự Thật chính là Chân Lý.
Lời đó được Chúa Giêsu nói ra vào cuối đời Ngài, nhưng vẫn nói về lễ Giáng Sinh: “Tôi sinh sa vì lý do đó”. Vì vậy mà có lễ Giáng Sinh. Có lễ Giáng Sinh vì Chúa Giêsu đến làm chứng cho Sự Thật. Chúng ta hãy tập trung vào hai điều liên quan trong câu này, hai điều liên quan lễ Giáng Sinh, và kết thúc bằng lời động viên.
ĐIỀU LIÊN QUAN 1: Lễ Giáng Sinh nghĩa là có Sự Thật – Sự Thật mà mọi người nên tin.
Có Sự Thật đến từ bên ngoài thế giới này và cho thế giới biết ý nghĩa. Thế gian không làm nên Sự Thật này, cũng không định dạng hoặc thay đổi Sự Thật này. Đó là SỰ THẬT, không phải là một sự thật cho tôi và một sự thật khác cho bạ, nhưng là SỰ THẬT cho tất cả chúng ta. SỰ THẬT đó tuyệt đối và bất biến.
Có thể có một thế hệ hoặc một thế kỷ mà điều gợi ý của câu nói này không cần nhấn mạnh: Có Sự Thật, Sự Thật ngoài trí óc của chúng ta, Sự Thật mà chúng ta không tạo ra nhưng chúng ta phát hiện, Sự Thật mà chúng ta không thể kiểm soát nhưng quy phục. Cũng có thể có một thời gian chúng ta không coi điều này là một phần trong sứ điệp của Kitô giáo. Nhưng chưa phải là lúc này.
Người đương thời khước từ Sự Thật tuyệt đối
Ngày nay, lời xác định đơn giản này lại chính là lời mặc khải tuyệt vời và gây nhiều tranh luận. Nhiều người không tin như thế. Nếu ngày nay bạn muốn nói rằng có Sự Thật – Sự Thật mà mọi người nên tin và theo, rất có thể bạn bị coi là sai lầm và trái luân lý.
Người ta nói bạn sai lầm vì Thiên Chúa không trao sự tuyệt đối cho Sự Thật, hoặc nếu có Thiên Chúa thì không có cách để nhận biết Ngài làm gì và Ngài nghĩ gì. Người ta nghĩ việc Ngài làm cũng tốt như công việc của ai đó.
Bạn không chỉ bị coi là sai lầm, bạn còn bị coi là trái luân lý nếu bạn cứ khăng khăng cho rằng có Sự Thật tuyệt đối. Tại sao? Vì để nói có Sự Thật tuyệt đối sẽ gây khó chịu và định kiến với điều người khác nghĩ.
Ngày nay, luân lý được xác định theo tính tương đối. Nếu bạn không tin Sự Thật mà bạn thấy thì sẽ buộc tội chính mình, rồi bạn khiêm nhường, sống tốt và có luân lý. Nhưng nếu bạn tin Sự Thật mà bạn thấy thì sẽ kết tội mình, rồi bạn kiêu ngạo, cố chấp và trái luân lý. Ngày nay, nhân đức và luân lý đòi hỏi tính tương đối.
Với thế giới của thế kỷ 21 này, Chúa Giêsu cũng vẫn nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật”. Đó là thế giới mà sứ điệp của Ngài bị vô hiệu hóa ngay trước khi được nói ra, vì SỰ THẬT bị coi là nguồn gốc của niềm tin mù quáng (bigotry), sự cố chấp và định kiến. Nhưng về mặt khc1, tính tương đối được coi là mẹ đẻ của lòng tôn trọng văn hóa, sự khoan dung và hòa bình.
Tràn lan quan điểm tương đối về Sự Thật
Nói cách khác, sứ điệp của Kinh thánh về lễ Giáng Sinh ngày nay tại Hoa Kỳ không chỉ gặp trở ngại là Đức Kitô bị bỏ ra ngoài lễ Giáng Sinh, mà còn có vấn đề nghiêm trọng hơn là Sự Thật cũng bị bỏ ra ngoài thực tế. Rất nhiều người cho rằng không còn Sự Thật tuyệt đối nữa. Họ không tìm kiếm SỰ THẬT có ý nghĩa đối với cuộc sống và lịch sử.
Thay vì người ta cố gắng trải nghiệm cuộc sống ở mức trọn vẹn và gọi sự trải nghiệm này là SỰ THẬT đối với họ, chứ không là Sự Thật tuyệt đối, chỉ là sự thật đối với họ thôi. Hướng dẫn chung trong văn hóa này đơn giản lắm: “Hãy bỏ con khỉ xuống khỏi lưng!”. Nếu điều đó tác dụng đối với bạn thì rất tốt. Nhưng đừng đặt nó lên người bạn nữa.
Chúng ta cần biết quan điểm về Sự Thật này như thế nào trong đời sống phụ nữ Mỹ ngày nay. Nó ảnh hưởng nhiều hoặc ít. Bạn có thể thấy nó trong nhà thờ, nơi người ta cũng không muốn nghĩ về sự tuyệt đối của Kinh thánh. Hãy nghe Alan Bloom nói trong cuốn sách bán chạy như tôm tươi của ông là cuốn The Closing of the American Mind, tr. 25,
Có một điều mà giáo sư có thể chắc chắn: Hầu như mỗi sinh viên đại học đều cho rằng Sự Thật chỉ tương đối thôi. Nếu sự thật này được trắc nghiệm, người ta có thể tính theo phản ứng của sinh viên: Họ sẽ không hiểu. Bất kỳ ai cũng nên coi [tính tương đối] không là điều hiển nhiên làm họ ngạc nhiên, như thể họ đang tính toán 2 + 2 = 4. Đây là những điều bạn không hề nghĩ tới. Nền tảng của sinh viên cũng đa dạng như những điều Hoa Kỳ có thể cung cấp. Một số người có tín ngưỡng, một số người vô thần; một số người theo cánh Tả, một số người theo cánh Hữu; một số người muốn làm khoa học gia, một số người muốn làm người hoạt động vì nhân quyền, làm chuyên gia hoặc thương gia; một số người nghèo, một số người giàu. Họ chỉ kết hợp theo tính tương đối của họ và trung tín với sự bình đẳng. Hai cái đều liên quan trong khái niệm luân lý. Tính tương đối của sự thật không là sự thấu hiểu lý thuyết mà là nguyên lý luân lý, tình trạng của một xã hội tự do, hoặc họ hiểu điều đó.
Bản chất tự mâu thuẫn của tính tương đối
Xã hội của chúng ta là thế. Vấn đề về thuyết tương đối này là nó tự mâu thuẫn và không thuộc về Kinh thánh.
Thuyết tương đối tự mâu thuẫn. Nếu bạn nói: “Không có Sự Thật tuyệt đối để người ta nên tin”, bạn tự mâu thuẫn với chính mình, vì bạn nói rằng bạn muốn người khác tin, nhưng câu đó lại không có điều mà người ta nên tin. Sự ẩn giấu của thuyết tương đồi là nó muốn tương đối hóa yêu cầu của mọi người đối với sự thật, nhưng không là chính nó.
Điều này có trong thực tế “thật”. Hai tuần trước, tại Atlanta có khoảng 500 giáo sĩ và tu sĩ đã họp nhau để thảo luận về cách cứu vãn trong phong trào ủng hộ sự sống mà người ta muốn đóng cửa các điểm phá thai bằng cách. Những người ủng hộ sự sống ở Atlanta kêu gọi chống phản đối và phân phát tờ rơi.
Người ta lưu ý thông điệp: “Hãy bảo vệ Quyền Sinh Sản” (Defend Reproductive Rights). Nói cách khác, nếu những người ủng hộ sự sống muốn coi phôi thai là con người có quyền sống, họ có thể có, nhưng đừng đặt con khỉ lên lưng phụ nữ của đất nước này. Đó là quan điểm cá nhân và tôn giáo. Đó là tương đối.
Ở phía dưới tờ rơi có hàng chữ lớn: “CHÚNG TÔI SẼ KHÔNG THA THỨ CHO TÍNH CỐ CHẤP!”. Bạn có hiểu điều đó là gì? “Sự khoan dung” là cái tương đương về luân lý của tính tương đối. Nếu sự thật là tương đối và không tuyệt đối, nên có sự khoan dung hoàn toàn. Nhưng để làm co sự thật luân lý này stick, bạn phải đặt sức mạnh tuyệt đối phía sau nó. Câu “chúng tôi sẽ không tha thứ cho tính cố chấp” là điều tương đương của câu “Chúng tôi loại bỏ những điều tuyệt đối!”. Đó là tự mâu thuẫn. Đó là minh chứng rằng chúng ta không thể sống thiếu Sự Thật tuyệt đối.
Cũng chẳng ngạc nhiên khi tuyết tương đối không thuộc về Kinh thánh. Chúa Giêsu nói: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật”.
Điều liên quan thứ nhất về lễ Giáng Sinh là có Sự Thật – Sự Thật này đến từ Thiên Chúa, Đấng ở ngoài trái đất và cho thế giới biết ý nghĩa của Sự Thật; Sự Thật này tuyệt đối và bất biến; Sự Thật mà mọi người nên tìm kiếm để tin tưởng và quy phục.
ĐIỀU LIÊN QUAN 2: Lễ Giáng Sinh nghĩa là Chúa Giêsu đến làm chứng cho Sự Thật – Ngài là nhân chứng chính.
Làm sao nghe lời chứng của Chúa Giêsu ?
Chúa Giêsu đã đi. Cái gì trở thành lời chứng đó? Câu hỏi này dành cho chúng ta. Chưa đủ để nói rằng Ngài đã gởi Thần Khí đến thay vào vị trí của Ngài. Đó là chủ yếu. Chúng ta tin Ngài có. Nhưng Chúa Giêsu nói rằng Ngài sinh ra trong thế gian để làm chứng cho Sự Thật. Nếu chúng ta muốn nghe lời chứng rằng Chúa Giêsu đã đến trao ban Sự Thật, chúng ta phải trở lại thời gian Ngài hiện diện và mặc xác phàm, khi Ngài bước đi, nói, lao động, yêu thương và chịu chết. Đó là những gì chúng ta phải thấy và phải nghe.
Chúng ta làm điều đó bằng cách nào? Giả sử bạn nói: “Tôi biết tôi cần khám phá và sống theo SỰ THẬT. Tôi biết thuyết tương đối không thực sự tác dụng. Nhưng làm sao tôi có thể có chứng cớ về Chúa Giêsu? Làm sao tôi có thể chắc chắn Kinh thánh có chứng cớ thật về Chúa Giêsu? Làm sao tôi chắc chắn chứng cớ về Chúa Giêsu là thật?”.
Bạn hãy đọc 1 trong 4 Phúc Âm và bắt đầu lắng nghe các lời chứng về Chúa Giêsu trong đó. Bạn hãy cầu xin Chúa giúp bạn hiểu Sự Thật. Bạn hãy nhìn những việc Ngài làm, lắng nghe điều Ngài nói, và nghĩ về thái độ của Ngài. Bạn hãy nhận định về các tác giả Phúc Âm và về chính Chúa Giêsu đã có tính chính trực hoặc úy tín dù thiên hạ là những người gian trá, nghèo khổ hoặc sùng kính.
Thông điệp tự minh chứng của Kinh thánh
Tôi tin rằng Thiên Chúa đã làm cho chúng ta phụ thuộc vào Kinh thánh đối với lời chứng về Chúa Giêsu ngày nay vì Kinh thánh có sức mạnh thuyết phục người ta rằng lời chứng về Chúa Giêsu là thật.
J. B. Phillips dịch Tân ước từ bản tiếng Hy Lạp sang tiếng Anh hiện đại từ 40 năm trước và sau đó nói: “Tôi cảm thấy như việc đi lại đường dây điện cho một ngôi nhà cổ mà không thể tắt nguồn chính” (Letters to Young Churches, London, 1947, trang xii).
Khi hoàn tất bản dịch, dịch giả Phillips nói: “Có sự chân thật và sự giản dị như trẻ con, hiệu quả tổng thể rất nhiều. Không ai có thể bỏ qua những điều như vậy với sự kiện thật ở phía sau” (The Ring of Truth, London, 1967, trang 58).
Điều tôi đang nói đây là cách bạn tin lời chứng bằng cách nghe và hiểu nếu bạn cảm thấy Ngài đang nối kết với bạn hoặc nếu Ngài có “Chiếc Nhẫn Sự Thật”. Đó là điều bạn phải làm với Phúc Âm. Tiến sĩ E.V. Rieu là một học giả đã chuyển ngữ thơ cổ của thi sĩ Homer 4 cuốn Phúc Âm từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Anh hiện đại.
Ông nói: “Tôi cảm thấy sâu xa rằng tôi có thể hy vọng. Điều đó đã... thay đổi tôi; công việc của tôi đã thay đổi tôi. Tôi kết luận rằng những lời đó mang dấu ấn của Con Người Giêsu và Thiên Chúa. Đó là Magna Carta (hiến pháp cơ bản) của tâm linh con người” (The Ring of Truth, London, trang 56).
Nói cách khác, nếu bạn đọc Phúc Âm khi những điều đó có trong Kinh thánh, đồng thời cởi mở và chăm chú lắng nghe, sẵn sàng thực hiện Sự Thật nếu bạn thấy, lời chứng cảu các tác giả và lời chức về Chúa Giêsu sẽ cho bạn điều đáng tin.
Giáng Sinh nghĩa là Chúa Giêsu sinh ra và đến trong thế gian để làm chứng cho Sự Thật. Lời chứng về việc Ngài làm và lời Ngài nói được lưu lại trong Phúc Âm. Hãy đọc đi đọc lại với tâm hồn mở rộng, bạn sẽ biết được SỰ THẬT mà Chúa Giêsu đã đem đến.
LỜI ĐỘNG VIÊN: Đừng xử sự như Philatô khi bạn nghe nói về Sự Thật!
Khi bạn nghe Sự Thật, bạn đừng như Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Sự thật là gì?” (Gga 18:38).
Nếu Philatô đã nghe trước đó khi chúng ta phê bình tính tương đối của sự tự mâu thuẫn, tôi nghĩ ông ta có thể nói: “Tôi không bao gồm trong lời phê bình của bạn vì tôi không nói sự thật là tương đối, và tôi cũng không nói sự thật là tuyệt đối, mà tôi chỉ nói tôi không biết sự thật là gì. Sự thật có thể là tương đối, cũng có thể là tuyệt đối, nhưng tôi không biết. Và như vậy, tôi không thể bị kết tội tự mâu thuẫn vì tôi không biết. Thế nên tôi trì hoãn việc xét xử”.
Có thể bạn không kết án Chúa Giêsu không phải vì bạn nghĩ Ngài không thật mà chỉ vì bạn kông biết. Bạn sống với sự lưỡng lự về vấn đề đó.
Bạn có nghi ngờ sự phán đoán và viện cớ không biết về các vấn đề quan trọng? Hay bạn chỉ lưỡng lự những vấn đề có vẻ không quan trọng hoặc khó xử đối với bạn?
Tôi chưa gặp hoặc nghe nói về một người gặp rắc rối trong việc tin những điều tuyệt đối về luân lý khi người đó bị đấm vào mặt. Người đó chắc chắn rằng kẻ tấn công mình hoàn toàn có tội. Nếu quan tòa xử người đó vô tội vì sự thật chỉ tương đối và việc bị đấm vào mặt là tốt cho bạn, bạn không thể để những điều tuyệt đối của con khỉ lên lưng bạn, và bạn sẽ nói rằng quan tòa đó tồi tệ.
Có thể Philatô nói: “Tôi không biết sự thật tuyệt đối là gì, và tôi nghĩ mình không thể tìm được sự thật đó”. Chính chúng ta cũng có thể nói như vậy! Nhưng khi mối quan tâm của bạn gặp nguy hiểm, bạn thực sự sẽ không hành động như thể bạn không biết sự thật. Chúng ta có những cách kết án rất mạnh khi tài sản của chúng ta có nguy cơ, phải không? Lạ thay là thuyết bất khả tri và thuyết tương đối (agnosticism and relativism) lại bị “thổi bay” khi quyền lợi và cuộc sống của chúng ta còn mơ hồ!
Mùa Giáng Sinh này, bạn hãy nhận biết đòi hỏi của Chúa Giêsu đối với Sự Thật. Đó là vấn đề Sự Sống Đời Đời và Sự Chết. Một lần khác, Chúa Giêsu đã nói: “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. Ai muốn làm theo ý của Người, thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do tôi tự mình giảng dạy. Ai tự mình giảng dạy, thì tìm vinh quang cho chính mình. Còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình, thì là người chân thật, và nơi người ấy không có gì là bất chính” (Ga 7:16-18).
Chúa Giêsu không sinh ra để giữ bí mật về Sự Thật của Thiên Chúa. Ngài sinh ra và đến thế gian để làm chứng cho Sự Thật, Sự Thất hoàn toàn bất biến của Thiên Chúa. Hãy nhận biết mức độ nguy cơ. Hãy đọc Phúc Âm. Rồi bạn sẽ nhận biết Sự Thật, và chính Sự Thật sẽ giải thoát bạn!
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ DesiringGod.org)
Giáng Sinh 2012
Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012
Đề Tài Gia Trưởng Tháng 12/2012 : Gia Trưởng Làm Máng Cỏ Để Chúa Đến
Mùa Noel khoác lên xã hội đời thường một dáng vẻ độc đáo thú vị làm cho không khí mùa Noel hàng năm không chỉ mang ý nghĩa thánh thiêng tôn giáo mà còn trở thành không gian văn hoá tinh thần độc đáo của xã hội loài người.
Kính thưa quý gia trưởng !
1. Vui đón mùa Noel.
Ngay trong những ngày của mùa Vọng, người Công giáo chúng ta đã hăm hở chuẩn bị cho niềm vui ngày Noel : dọn dẹp trang hoàng lại nhà cửa, giăng đèn điện trang trí từ ngoài ngõ đến trong nhà, sắm sửa thêm vật dụng mới cho gia đình, mua sắm quần áo mới cho con cái. Ở nơi dân cư tập trung người Công giáo, đường thôn ngõ xóm còn được quét tước sửa sang sạch đẹp, có cả những con đường kéo dài nhiều cây số quanh năm không một ánh đèn đường bây giờ bỗng chi chít như có cả một rừng sao trời kéo về trải dài hai bên đường toả sáng.
Và khi ngày Noel gần kề, trong nhà ngoài ngõ mọc lên những cây thông trang hoàng lộng lẫy : Cây thông vĩ đại trước mỗi Thánh đường làm bao khách bộ hành phải xuýt xoa, lác đác hàng thông hai bên đường tạo điểm nhấn cho những đường sao, cây thông sang trọng nơi gian phòng khách mỗi nhà, cây thông nho nhỏ chớp chớp sự gọi mời nơi các hàng quán tấp nập người vào ra…
Đặc biệt nhất là vẻ đẹp của các mô hình hang đá Belem. Bằng đủ loại chất liệu và tuỳ theo sự khéo léo của mỗi người, các hang đá to nhỏ đủ kiểu dáng mọc lên khắp nơi. Hang đá nào cũng phải có ít nhất ba thánh tượng : Thánh Giuse uy nghiêm hiền từ, Đức Maria e ấp trinh trong, và đặc biệt nhất là hài nhi Giêsu nằm trong máng cỏ giữa trung tâm hang đá, khuôn mặt trẻ thơ đẹp tựa thiên thần, đôi môi hé cười và dang rộng hai tay mời gọi. Ngoài ra, để thêm sinh động cho quần thể hang Belem, người ta có thể thêm vào một ông già Noel túi quà đầy ắp, một vài thiên thần, vài chú mục đồng và ba nhà đạo sĩ cưỡi lạc đà xa xa,… Tất cả mọi mô hình hang Belem xưa nay, dù tốn kém đắt tiền hay đơn sơ giản dị đến mấy, chưa bao giờ thiếu vắng một vẻ đẹp thánh thiêng làm ngây ngất lòng người chiêm ngắm.
Niềm vui thăng hoa vào đêm 24/12 - Đêm Chúa ra đời. Dòng người khắp nơi đổ về các Thánh đường dự lễ. Lời kinh nguyện xen lẫn nhạc thánh du dương khiến cho tâm hồn con người lâng lâng thoát tục, khát khao sự thánh thiện, tan đi mọi toan tính hẹp hòi.
Rồi lễ xong, niềm vui được nối dài đến sáng và cả ngày hôm sau. Người người, nhà nhà tụ họp mở tiệc mừng. Ẩm thực ngon mắt ngon miệng, rượu bia sóng sánh nghĩa tình và ánh mắt nụ cười của những người thân yêu bao quanh… Đất với Trời như đong đầy hạnh phúc.
Mùa Noel, dù là người có đạo hay không, được diện một bộ cánh tươm tất, khoác thêm bên ngoài một chiếc áo và thả bước trên đường, hít hà không khí trong lành, tai nghe văng vẳng tiếng nhạc, tiếng chuông ngân, mắt nhìn cảnh sắc của đèn điện, của thông và của hang Belem đã là một thú vị vô cùng khó có gì đánh đổi.
Để rồi, ngay khi mùa Noel này vừa qua đi, lòng người đã mơ về niềm vui ngọt ngào của mùa Noel năm tới…
2. Làm máng cỏ để Chúa đến.
Niềm vui của mùa Noel thật quyến rũ. Mọi sự chuẩn bị cho vui đón Noel nêu ở trên đều tốt đẹp. Song, là người Công giáo, chúng ta thấy đó mới chỉ dừng lại ở vẻ đẹp bên ngoài. Con Thiên Chúa, qua mầu nhiệm Giáng Sinh, đã bày tỏ tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại ; nên cũng có thể nói mầu nhiệm Giáng Sinh là mầu nhiệm của Tình Yêu. Giáo Hội hằng năm kỷ niệm sự kiện trọng đại này qua Mùa Giáng Sinh không chỉ nhằm nhắc nhớ các tín hữu Tình Yêu cao vời của Thiên Chúa đã được thực hiện cách đây trên 2000 năm ; mà hơn hết, Giáo Hội còn muốn các tín hữu cảm nhận Tình Yêu Thiên Chúa luôn thường trực và bất biến trong thời gian, không gian. Bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào, mầu nhiệm Giáng Sinh luôn được hiện hữu, nhằm đem đến bình an và ơn cứu độ cho con người trần gian. Đấng Emmanuel trong hình hài trẻ thơ Giêsu muốn nhân loại chào đón Ngài bằng một sự chuẩn bị từ bên trong tâm hồn, đó mới thực sự là vẻ đẹp đích thực của mầu nhiệm Giáng Sinh. Sự chuẩn bị ấy mới đúng nghĩa “một máng cỏ” để Con Thiên Chúa ngự vào.
a) Máng cỏ trong lòng mình :
Nơi thái tử Trời cao giáng hạ giữa đêm đông buốt giá không phải là cung điện nguy nga, cũng không phải nơi các phòng trọ đầy đủ dư thừa tiện nghi nhưng lại chật hẹp tình nhân ái. Ngài chọn cho mình một cái chuồng gia súc không cửa đóng then cài, và một máng cỏ làm chiếc nôi êm đầu đời của Hài Nhi cực Thánh. Ngôi Hai làm người đã dạy ta điều gì qua những chi tiết vừa nêu ? Phải chăng Ngài rất muốn cõi lòng mỗi chúng ta cũng nên như máng cỏ gia súc thuở xưa : thanh bạch đơn sơ không vật chất quyền uy như những cung điện nguy nga, không chật hẹp tình nhân ái như các phòng trọ đóng kín, mà mở rộng như một chuồng gia súc giữa đồng ngày ấy, để mời gọi Con Chúa ghé thăm. Đó chính là cõi lòng thiện tâm của một người không toan tính thiệt hơn, không ích kỷ với tha nhân ; trái lại rất đơn sơ, hiền hoà, vị tha.
b) Máng cỏ trong gia đình mình :
Không chỉ biến lòng mình nên máng cỏ, chúng ta còn phải chủ động làm cho cả gia đình mình một máng cỏ để Con Thiên Chúa ngự vào. Sự thuỷ chung trong tình chồng vợ, sự gương mẫu hy sinh của cha mẹ, sự ngoan ngoãn hiếu thảo của con cái, và nhất là đời sống đức tin mãnh liệt của gia đình mới thực sự biến gia đình mình thành máng cỏ để hài nhi Giêsu giáng sinh.
c) Máng cỏ giữa lòng đời :
Hài nhi Giêsu không chỉ đến thế gian này cho riêng người Công giáo mà đến vì cả nhân loại, không phân biệt một ai. Ngài không đến với thế gian để chờ được tung hô, mà Ngài đến để trợ sức và giải thoát cho nhân loại khỏi tội lỗi. Tiếc thay, đã hơn hai ngàn năm giáng thế, mà vẫn còn một phần đông nhân loại chưa nhận ra Ngài. Đám đông ấy vẫn có thể vui mỗi lần Noel đến, nhưng chưa hề được cảm nếm hạnh phúc thật sự về món quà từ tay Thiên Chúa Cha. Bổn phận của người Công giáo chúng ta chính là chia sẻ món quà ấy với tha nhân. Chính bằng đời sống đức tin mạnh mẽ của mình giữa đời thường, mỗi chúng ta đang làm máng cỏ giữa lòng đời để Con Thiên Chúa giáng sinh.
“Vinh Danh Thiên Chúa trên Trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.”
Trong tâm tình của Năm Đức Tin, chúng ta cùng nhìn lại niềm tin của mình, để nhận ra hài nhi Giêsu chính là một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa Cha đã trao ban cho nhân loại. Mầu nhiệm Giáng Sinh giúp chúng ta tái khẳng định hạnh phúc đích thực của nhân loại này chính là quay về với Thiên Chúa bằng việc đón nhận hài nhi Giêsu. Chẳng ai nhận quà rồi lại cứ để nguyên không mở quà. Vậy thì khi đón nhận “món quà cực trọng” là hài nhi Giêsu từ tay Thiên Chúa Cha, mỗi người cần phải biết sử dụng món quà ấy, nghĩa là biết để hài nhi Giêsu được lớn lên trong tâm hồn mình, trong mái ấm gia đình mình, trong đời sống chung của cộng đồng mình. Nhờ đó, đời sống chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.
Tác giả bài viết: BAN ĐẶC TRÁCH GIA TRƯỞNG GIÁO PHẬN XUÂN LỘC
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


























